Báo Đại Đoàn Kết Giải trí

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu: Những vần thơ còn ở lại

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu: Những vần thơ còn ở lại

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu: Những vần thơ còn ở lại
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu. Ảnh: Hoàng Thu Phố.

“Ai cuối cùng rồi cũng phải rời bỏ thế gian này, nhưng có những người ra đi làm tôi tiếc nuối và tự hỏi: Sao họ không ở lại với cuộc đời này thêm nữa. Một trong những người đó là nhà thơ Nguyễn Đức Mậu” - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều bày tỏ như vậy khi biết tin nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đột ngột qua đời sáng 8/4, hưởng thọ 79 tuổi.

Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khẳng định, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. “Những dòng thơ viết về chiến tranh và người lính của ông vẫn dội vang trong tôi trong cả thời bình. Vì đấy là những dòng thơ trung thực, da diết và chứa đựng bao điều lớn lao của con người” - nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nhận xét, đồng thời bày tỏ, dù đi trên một con đường thơ ca khác biệt, nhưng ông chưa bao giờ thấy Nguyễn Đức Mậu áp đặt quan niệm của mình lên người khác: “Ông luôn độ lượng và công bằng với thế hệ nhà văn sau ông, nhưng không chấp nhận sự dễ dãi theo cách nhìn của ông”.

Sự ra đi đột ngột của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu khiến ai cũng bất ngờ. Nhà văn Phùng Văn Khai - Phó Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ quân đội - nơi nhà thơ Nguyễn Đức Mậu có nhiều cống hiến - kể lại: Sáng 8/4, nhà thơ vẫn đi bộ qua cổng Tạp chí Văn nghệ quân đội (Nhà số 4), vẫn bắt tay, vẫn bày tỏ sự động viên, khích lệ thế hệ đi sau. Sau đó, ông tản bộ ra phố như bao ngày. Vậy mà chỉ sau mấy tiếng đồng hồ đã bàng hoàng nghe tin dữ. Ông mất trên một chuyến xe buýt khi đang dạo quanh thành phố...

Ở phố Lý Nam Đế, người ta quen gặp một nhà thơ hiền hậu, chậm rãi, mỗi sáng thường đi bộ qua phố sang vỉa hè Phan Đình Phùng thoáng mát. Rồi có khi ông nhà thơ lên xe buýt đi ngắm phố phường...

Nhà văn Sương Nguyệt Minh - người từng gắn bó với nhà thơ Nguyễn Đức Mậu ở Tạp chí Văn nghệ quân đội - gọi ông giản dị là “người hiền”, và nói rằng, nhớ Nguyễn Đức Mậu là nhớ những bài thơ đã đi cùng năm tháng: “Trường ca sư đoàn”, “Nấm mộ và cây trầm”, “Màu hoa đỏ”…

Sinh năm 1948 tại Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình), Nguyễn Đức Mậu nhập ngũ năm 1966, chiến đấu trong đội hình Sư đoàn 312 ở chiến trường Lào và chiến trường B. Ông đến với thơ không phải từ một lựa chọn nghề nghiệp ban đầu, mà từ chính những năm tháng chiến tranh. Ông viết trong hành quân, giữa rừng, sau những lần đối diện cái chết của đồng đội. Năm 1972, chùm thơ gửi từ chiến trường của ông đoạt giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ, đánh dấu sự xuất hiện của một giọng thơ giàu trải nghiệm, chân thực và ám ảnh.

Sau này, Nguyễn Đức Mậu trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của dòng thơ viết về chiến tranh và người lính. Ông là người viết đều và xuất bản khá nhiều tập thơ: “Thơ người ra trận” (in chung, 1971), “Cây xanh đất lửa” (1973), “Áo trận” (1976), “Mưa trong rừng cháy” (1976), “Trường ca Côn Đảo” (1978-1991), “Trường ca sư đoàn” (1980), “Hoa đỏ nguồn sông” (1987), “Từ hạ vào thu” (1992), “Bão và sau bão” (1994), “Cánh rừng nhiều đom đóm bay” (1998), “Bầy chim lá màu vàng” (2004), “Thơ lục bát” (2007), “Mở bàn tay gặp núi” (2008), “Từ trong lòng cuộc chiến” (2010)… Trong đó, những tác phẩm như “Trường ca sư đoàn”, “Nấm mộ và cây trầm” không chỉ ghi lại ký ức chiến tranh mà còn là những suy tư sâu sắc về con người, về sự hy sinh và những khoảng trống không thể bù đắp. Đặc biệt, bài thơ “Màu hoa đỏ”, viết năm 1990 sau chuyến đi Vị Xuyên, được xem là một trong những thi phẩm tiêu biểu viết về đề tài này. Những câu thơ: “Có người lính/ Từ mùa thu ấy ra đi từ mái tranh nghèo/ Có người lính/ Mùa xuân ấy ra đi từ ấy không về/ Dòng tên anh khắc vào đá núi/ Mây ngàn hóa bóng cây tre…” đã vượt ra khỏi trang giấy, trở thành một phần ký ức chung của nhiều thế hệ. Bài thơ sau đó được nhạc sĩ phổ nhạc, lan tỏa rộng rãi trong đời sống.

Trong suốt hành trình sáng tác, Nguyễn Đức Mậu đã nhận nhiều giải thưởng quan trọng: Giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ (1972-1973), nhiều giải thưởng của Bộ Quốc phòng và Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng Văn học ASEAN (2001), Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2001). Những năm gần đây, tác phẩm của ông vẫn được đưa vào giảng dạy, thậm chí xuất hiện trong đề thi văn, cho thấy sức sống bền bỉ của một giọng thơ từng đi qua chiến tranh nhưng không dừng lại ở ký ức chiến tranh.

Với đồng nghiệp, ông không chỉ là một nhà thơ mà còn là một người anh, một người thầy, một người làm nghề mực thước. Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý vẫn nhớ lời dặn của ông: Nếu thơ hay thì phải in, dù người viết có thế nào. “Thơ hay của cộng tác viên sẽ làm sang cho tạp chí” - một quan niệm giản dị nhưng thể hiện rõ sự công bằng và trách nhiệm với nghề.

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu ra đi đột ngột để lại nhiều nuối tiếc. Nhưng nghĩ theo một cách khác, ở trên cao xanh kia, hẳn ông sẽ thấy nhẹ lòng. Mấy năm trước, tuyển tập thơ dày dặn của ông đã được xuất bản như một sự tổng kết khá đầy đủ của một đời viết. Những gì Nguyễn Đức Mậu để lại đủ trang trọng, đủ ấm áp, và đủ để nhiều thế hệ còn nhớ tới những đóng góp của ông cho văn học.

Những “người văn” của một thế hệ viết đầy kiêu hãnh lần lượt rời đi, để lại những khoảng trống khó bù đắp. Nhưng những gì họ để lại không mất đi. Nó ở lại trong trang sách, trong ký ức, và trong cách người ta nhắc đến họ.

Hoàng Thu Phố