Báo Đại Đoàn Kết Đối thoại

Nhân rộng mô hình “hành trình di sản” để quảng bá văn hóa Việt Nam

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Nhân rộng mô hình “hành trình di sản” để quảng bá văn hóa Việt Nam

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Nhân rộng mô hình “hành trình di sản” để quảng bá văn hóa Việt Nam
TS Nguyễn Thị Hiệp.

Dự án “Các hành trình du lịch di sản trong thành phố Hà Nội” đã được triển khai với 4 hành trình du lịch di sản kết nối 28 di tích tiêu biểu trên địa bàn Thủ đô. Phóng viên Báo Đại đoàn kết có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Thị Hiệp, chuyên gia kỹ thuật quốc tế - Cơ quan Hợp tác Kỹ thuật quốc tế (Bộ Ngoại giao Pháp) về tiềm năng của dự án đang mở ra cách tiếp cận mới trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của Thủ đô.

PV: Bà có thể chia sẻ rõ hơn về mô hình “hành trình di sản” mà nhóm dự án đang triển khai? Theo bà mô hình này sẽ góp phần như thế nào trong việc phát triển du lịch văn hóa tại Hà Nội?

TS Nguyễn Thị Hiệp: Từ kinh nghiệm học tập và làm việc tại Pháp trong hơn 20 năm, tôi nhận thấy việc gắn kết giữa di sản và phát triển kinh tế, đặc biệt là du lịch, được thực hiện rất hiệu quả. Pháp duy trì vị thế hàng đầu thế giới về thu hút khách du lịch nhờ biết khai thác giá trị di sản một cách bền vững. Chẳng hạn, Tuyên bố Paris năm 2011 về “Di sản như là động lực của phát triển” mà nội dung có nhiều điểm tương đồng với một số định hướng trong các nghị quyết về văn hoá của Việt Nam, đặc biệt là sự kết hợp giữa bảo tồn di sản, quy hoạch đô thị, sáng tạo văn hóa và phát triển kinh tế.

Một điểm quan trọng trong Tuyên bố Paris năm 2011 là nhấn mạnh vai trò của cộng đồng – những chủ thể vừa bảo tồn, vừa thụ hưởng di sản. Bên cạnh đó là yêu cầu về đào tạo chuyên môn, hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường nghiên cứu và hợp tác trong nước cũng như quốc tế.

Dựa trên những nền tảng đó, chúng tôi đã xây dựng đề án “Hành trình di sản du lịch cho Hà Nội” và được Bộ Ngoại giao Pháp tài trợ triển khai tại Việt Nam. Trong hơn một năm thực hiện đã đạt được một số kết quả bước đầu. Về đào tạo, đã tổ chức được một chuỗi thuyết trình ở trường và các cuộc khảo sát thực địa làm nền tảng để nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo về di sản cho sinh viên. Về mặt nghiên cứu, chúng tôi đã đã hoàn thành công trình “Chốn thiêng kinh kì: hành trình di sản Thăng Long Hà Nội” gồm 10 bài nghiên cứu chuyên sâu về các không gian di sản ở Hà Nội, về 4 hành trình di sản theo chuyên đề cũng như đôi nét về Luật di sản và vai trò của Hội đồng di sản quốc gia.

Bên cạnh đó, là việc phát triển một ứng dụng công nghệ phục vụ du lịch, bảo tồn, giáo dục và nghiên cứu. Ứng dụng này là một công cụ đa ngôn ngữ (Việt, Anh, Pháp) và đa năng, phục vụ du khách trong và ngoài nước, đồng thời là công cụ cho người làm du lịch, làm công tác bảo tồn, cũng là dụng cụ cho giáo dục và nghiên cứu. Người dùng có thể tra cứu thông tin di tích, tìm đường, tương tác, thậm chí dịch thuật nội dung trực tiếp. Ứng dụng cũng tích hợp bản đồ tương tác, hình ảnh 360 độ và các tư liệu lịch sử.

Chúng tôi đã thử nghiệm xây dựng 4 hành trình di sản tiêu biểu cho 4 loại hình di tích và 4 loại hình tín ngưỡng của Việt Nam tại Hà Nội, như Thăng Long tứ trấn, các đền thờ Mẫu, đình thờ Tổ nghề và hệ thống chùa Việt. Các hành trình này không chỉ phục vụ du lịch mà còn giúp người học và nhà nghiên cứu tiếp cận di sản theo một cách có hệ thống, qua một câu chuyện xuyên suốt, dễ hiểu và dễ nhớ.

Hiện nay, mô hình này đang được một số địa phương quan tâm áp dụng. Dù vẫn trong giai đoạn thử nghiệm và tiếp tục cập nhật, nhưng dự án được đánh giá là một giải pháp thực tiễn, kết hợp giữa bảo tồn di sản, đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ.

Tôi cho rằng, nếu được phát triển và nhân rộng, mô hình này có thể góp phần thúc đẩy du lịch di sản trí tuệ bậc cao, đồng thời đưa văn hóa Việt Nam tiếp cận rộng rãi hơn với cộng đồng quốc tế.

Việt Nam đang xây dựng Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2045. Theo bà, Việt Nam cần đổi mới cách làm truyền thông ra sao để quảng bá văn hóa hiệu quả hơn trong kỷ nguyên số?

- Theo tôi, để truyền thông văn hóa hiệu quả, yếu tố quan trọng là phải gắn với tính ứng dụng và trải nghiệm. Nếu chỉ dừng ở lý thuyết hay tuyên truyền thì khó tạo được sức hút. Ngược lại, khi cung cấp cho người dùng các công cụ công nghệ, cụ thể như website hay ứng dụng điện thoại quét mã QR, du khách có thể tự trải nghiệm, khám phá và cảm nhận.

Chính sự tiện lợi này giúp du khách dễ dàng sử dụng trong đời sống hằng ngày, từ tìm hiểu thông tin đến tự khám phá khi đi du lịch. Mô hình mà chúng tôi hướng tới là để du khách có thể chủ động trải nghiệm, thậm chí đi một mình mà vẫn có đầy đủ công cụ hỗ trợ để khám phá Việt Nam một cách thuận tiện và hấp dẫn.

Trân trọng cảm ơn bà!

Thu Hương (thực hiện)