Những bản vẽ ma két kỳ lạ
Báo Giải Phóng hoàn thành nhiệm vụ khi đất nước thống nhất. Tháng 7/1976, báo giải thể, một số người trụ lại làm Báo Đại đoàn kết, số còn lại mỗi người đi một ngả. Dù nơi mới không xa chỗ cũ bao nhiêu nhưng cảm giác cách xa là có thật và việc gặp nhau trở thành nhu cầu...

Theo chiều dài thời gian các nhà báo bạc đầu như Thép Mới, Bùi Kinh Lăng, Nguyễn Thành Lê, Nguyễn Huy Khánh, Tịnh Đức, Tô Quyên, Tống Đức Thắng, Tiểu Dân, Ba Phát ra đi trước rồi đến các mái tóc muối tiêu, Vũ Tuất Việt, Nguyễn Trí Việt, Đinh Phong, Trần Thanh Phương, rồi đến Nguyễn Minh Hiền, Bến Hải, Mai Trang, Trần Danh Lân, Ba Minh Trần Bé và hai năm gần đây, nhà báo Thái Duy Trần Đình Vân cũng đã qua đời ở tuổi 99. Các cuộc họp mặt hàng năm của báo Giải Phóng những năm gần đây hầu như đã vắng mặt nhà báo, chỉ còn anh chị em công nhân nhà in nhưng ai cũng đã đến hoặc đã qua tuổi thất thập.
Nếu tính chi ly thì nhà báo chúng tôi còn sống lưa thưa bốn người ở cả hai đầu đất nước còn liên lạc với nhau. Ở phía Bắc là Cao Kim (tức Nguyễn Kim Toàn) và Doãn Thanh Hương, ở phía Nam thì (ngoài một số ít nhà báo đứt liên lạc ra) chỉ còn Mai Dưỡng, Mai Đình, Phương Hà và…tôi. Có thể nói có đến phân nửa trong số 250 nhà báo và cán bộ công chức đã vắng mặt vĩnh viễn. Thế nhưng bia đá tưởng niệm ở chiến khu Lò Gò Bến Ra vẫn còn hương khói và hàng năm vẫn còn đầy đủ những người còn sống đến để gặp nhau. Cho dù Báo Giải Phóng có được nhớ tới, được vinh danh hay không nhưng tình đồng chí đồng nghiệp và đồng đội của chúng tôi là mãi mãi. Và đó là một điều kỳ diệu, cũng giống như lần đầu tôi có duyên được găp thủ lĩnh Kỳ Phương để sau đó tôi đã thuộc về tờ báo thân yêu này.
Ấn tượng đầu tiên của tôi về Báo Giải Phóng là bản vẽ ma két báo 16 trang. Tác giả bản ma két đó là nhà báo Trần Phong, Tổng Biên tập Báo Cứu Quốc. Ông về Nam bằng tàu không số ghé bến Khâu Băng rồi gặp chúng tôi đang làm báo địa phương. Ông tìm thấy từ tờ báo Chiến Thắng có những gì ông cần như ấn phẩm, nhà in để sau đó ông cho ra đời tờ báo đã hoài thai trên đường mòn biển Đông.
Hơn sáu tháng sau, từ bản ma két tờ Báo Giải Phóng đầu tiên ra đời.
Có thể nói có đến phân nửa trong số 250 nhà báo và cán bộ công chức đã vắng mặt vĩnh viễn. Thế nhưng bia đá tưởng niệm ở chiến khu Lò Gò Bến Ra vẫn còn hương khói và hàng năm vẫn còn đầy đủ những người còn sống đến để gặp nhau. Cho dù Báo Giải Phóng có được nhớ tới, được vinh danh hay không nhưng tình đồng chí đồng nghiệp và đồng đội của chúng tôi là mãi mãi. Và đó là một điều kỳ diệu, cũng giống như lần đầu tôi có duyên được gặp thủ lĩnh Kỳ Phương để sau đó tôi đã thuộc về tờ báo thân yêu này.
Tuy chỉ in máy cây tự đóng, chữ chì chưa sắc nét nhưng các trang báo, bài báo đều cân đối, hài hòa và tỏa sáng có sức cuốn hút lạ, đặc biệt có hình ảnh cliché anh mang về từ Hà Nội. Hình ảnh chiến trường miền Nam cũng có nhưng chưa sắc nét nên anh phải thay nhiều logo bằng khắc gỗ. Nhiều bài báo nảy lửa nói về cuộc đụng đầu sắp diễn ra trên chiến trường của những cây bút chính luận hấp dẫn và sắc lẹm, tôi tìm thấy bài “Nhìn lên” của Trang Thế Hy, nói về một trí thức Sài gòn lầm lũi đi, về như đã cam phận. Rồi một hôm thấy mọi người nhìn lên, ông thử nhìn theo. Một lá cờ đang bay trên ngọn cây. Lá cờ Mặt trận xanh đỏ sao vàng. Bài báo tôn vinh một biểu tượng của cách mạng mà đọc không thấy sự gượng ép, chỉ thấy lòng mình lắng lại. Nhìn những nét tinh tế trên trang báo và cái hồn của chữ nghĩa tôi bỗng nhớ tới 16 trang maket và những nét bút chỉ run rẩy của ông mấy tháng trước. Lúc đó tuy tôi đang ở một tờ báo khác nhưng rồi chợt nghĩ hay là mình đã thuộc về.
Năm 1966, tôi trong đội ngũ những nhà báo được tăng cường cho Báo Giải Phóng thực hiện ma két mới nâng cấp của ông. Báo Giải Phóng bộ mới, mở rộng khổ nhật báo, dày bốn trang, in hai màu, có bản kẽm, in máy bán tự động, ra 19 ngày một số. Nhưng chỉ được ba tháng thì chiến tranh gõ cửa, an toàn khu đi vào chiến dịch đánh càn Junction City. Chiến khu rung lắc dữ dội dưới mưa bom và đại bác, xe tăng cắt rừng, máy bay trực thăng chiếm trảng cỏ, cơ quan sơ tán, phóng viên đi chiến trường, các biên tập viên cùng nhân viên đánh giặc. Địch rút quân câu theo máy in báo. Báo Giải Phóng phải nghỉ in, viết báo và nương theo làn sóng phát thanh đến độc giả. Phải mất hàng nhiều tháng và nhiều lần và phải chờ đến năm Mậu Thân báo mới in lại.
Tháng 5 năm Mậu Thân, tôi đi phóng viên chiến trường. Bài báo đầu tiên tôi gửi về: “Đường số 4 trong nhịp đập trái tim Sài Gòn” được đăng trên số báo ra ngày 5/6/1968! Ba bài viết tại chiến trường sau đó chỉ nghe đài đọc trên báo Nhân Dân, Quân Đội, Thống Nhất.. Sau Tết Ất Dậu mới trở về mới biết báo tạm ngưng để chẩn bị chuyển mình.
Năm 1969, người vẽ ma két chuyển mình sau Mậu Thân là nhà báo Thép Mới tác giả bài tùy bút nổi tiếng “Cây Tre Việt Nam”. Suốt cả năm liền tôi nghe đài đọc “Trường Sơn hùng tráng” của anh. Chữ nghĩa của anh giàu lửa cảm xúc. Tôi từ chiến trường về đến trạm giao liên thì gặp Đinh Phong đạp xe ra đón. Về đến cơ quan tôi đi thẳng tới nhà Kỳ Phương nhưng chỉ gặp Thép Mới đang ngồi với Trần Đình Vân (Thái Duy) uống trà dưới tàn lá bằng lăng lưa thưa. Thép Mới nói: Báo mình sẽ có nhà in riêng, đang trên đường Trường Sơn sắp về tới nơi rồi. Nghe anh nói tôi bỗng nhớ Kỳ Phương khi anh ấy xem tờ báo Chiến Thắng Bến Tre 5 năm trước. Kỳ Phương nhìn trang báo in ba màu tranh khắc gỗ, ước gì anh có được nhà in để biến ma két của anh thành ấn phẩm khả dĩ dễ coi trong hoàn cảnh chiến trường. Nhưng anh vẫn còn mắc kẹt trong phụ thuộc. Vậy là giờ đây Thép Mới đang biến ước mơ của Kỳ Phương thành hiện thực.

Tháng 6 năm 1969, mưa nguồn, rừng sáng lá xanh non. Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát thiết kế một công trình kiến trúc tráng lệ đặc biệt cho Hội nghị Diên Hồng Miền Nam. Mái lá trung quân cao vút lên tầm cao nhất của tán lá rừng. Đại hội Quốc dân diễn ra long trọng, ấm áp. Chính phủ Cách mạng Lâm thời được thành lập. Nhà báo Thép Mới thiết kế hai số báo khổ lớn đặc biệt trên giấy couché hiếm hoi đã về tới kho. Sự kiện Đại hội Quốc dân được đánh dấu bằng hai số báo hoành tráng trong vòng một tuần lễ. Đây là kỳ tích của một nhà in vượt Trường Sơn trên ba chiếc xe Zin. Máy in, chữ chì, bản kẽm đủ sức in mỗi tuần hai số, số lượng 5.000 chạy máy trong hai giờ.
Sau Đại hội Quốc dân báo ra định kỳ hàng, tuần phát hành khắp căn cứ địa và vùng giải phóng. Bài báo nhờ nương theo làn sóng phát thanh mà vang xa. Trong số báo đặc biệt thứ hai, Thép Mới đăng bài “Chính quyền trên chiến hào của tôi”. Anh nói: Cậu là nhà văn đó. Giữa tháng sáu anh nói: cậu xuất ngoại nhé. Bây giờ cậu qua B13, hậu cần may đo. Tôi nghĩ hoài không ra, tôi đi đâu, làm gì? Thép Mới nói: Tuyệt mật, cậu sẽ biết vào giờ chót. Đó là chuyến đi lịch sử của Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát thăm Vương quốc Campuchia. Báo làm hai số đặc biệt, tôi viểt hai bài báo. Hồng Sến lấy làm kịch bản. Tôi viết lời. Bộ phim tài liệu hai cuốn, chưa hòa âm thì rơi vào im lặng. Tháng chín, một sự kiện đẫm nước mắt cả nước, cả chiến khu, cả Sài Gòn, Miền Nam. Bác Hồ mất. Một khoảng lặng mênh mông trong tim.
Mấy tháng sau, tờ báo phải vẽ lại ma két lần nữa. Lần này thu nhỏ lại khổ A3. Lon Nol đảo chánh Sihanouk. Chiến tranh lan rộng. Máy in tháo rời đưa lên xe bò, tạm biệt chiến khu C. Vậy mà phải tốn tới ba năm làm báo bên kia biên giới. Trước khi trở ra Hà Nội, Thép Mới viết thư và giấy giới thiệu bằng tiếng Khmer. Tôi đi chiến trường K, tham gia Chiến dịch đường số 6. Lên Xiêm Riệp vào sống cùng người Khmer tị nạn trong đền Ankor Wat. Tôi viết bài “Bình minh Angkor” gửi về báo. Đài Giải Phóng và Đài phát thanh ở Hà Nội đọc. Tôi nhớ lời dặn dò của Thép Mới: Lần này, cậu thâm nhập sâu hơn để viết cuốn sách về cách mạng Campuchia. Tôi rất biết ơn anh.
Sau Hiệp định Paris Báo Giải Phóng thực hiện maket mới. Lần này người thiết kế là nhà báo Nguyễn Huy Khánh (tức Hai Khuynh). Anh là nhà báo, nhà khảo luận từng viết “Phê bình tiểu thuyết Trung Hoa” trên Tạp chí Bách khoa do học giả Nguyễn Hiến Lê giới thiệu. Anh đưa nhà in trở lại sông Vàm Cỏ, nhưng vẫn in báo khổ A3 đến hết năm 1973. Anh chuẩn bị cho bước đột phá mới, tập sự làm báo thị trường, viết sao cho người đọc móc túi mua. Rồi nhà in lại tiến thêm bước nữa dời về hẳn ở khu dân cư mới Cần Đăng. Về Cần Đăng báo ra khổ nhật báo, phát hành đúng ngày và độc giả vùng giải phóng mua qua các đại lý. Sự kiện này của Hai Khuynh làm tôi lại nhớ Kỳ Phương năm 1964. Khi anh xem ấn phẩm báo Chiến thắng Bến Tre, anh lật đến trang cuối tròn mắt ngạc nhiên khi thấy ở góc ngoài trang có dòng chữ lạ: giá ủng hộ 1 đồng. Anh hỏi tôi: Các cậu bán thật à. Tôi nói: thật. Vị lãnh đạo Ban tuyên huấn tỉnh nói thêm: Người ta có bỏ tiền ra mua thì họ mới biết quý tờ báo, nhà báo phải viết hay thì người ta mới mua. Anh Kỳ Phương trầm ngâm.

Nhưng phải đến khi anh Hai Khuynh (Nguyễn Huy Khánh) thì báo mới đươc bán hẳn hoi trong vùng giải phóng miền Đông. Việc làm báo bán này còn chứa đựng một ý nghĩa lớn hơn. Đó là một cuộc tập dượt nghiêm túc rất quan trọng cần thiết cho sự ra đời của báo Sài Gòn Giải Phóng tại Sài Gòn sau này. Bản vẻ maket của nhà báo Hai Khuynh - Nguyễn Huy Khánh trở nên kỳ diệu hơn, lại và sinh động và thiêng liêng vì nó là lời đáp của nhà báo cách mạng trong thời khắc lịch sử oai hùng của dân tộc.
Trong cả đời làm báo của mình tôi nhớ mãi tờ báo ấy, bản ma két độc đáo tuyệt vời của anh thể hiện nơi trang trọng nhất của trang báo. Đó là, bên cạnh manchette báo Sài Gòn Giải Phóng, là một ô vuông lặng lẽ khiêm nhường. Trong ô vuông đó có những dòng chữ lạ, rất lạ, chưa từng xuất hiện trên trang nhất báo Giải Phóng trước đây:
SÀI GÒN GIẢI PHÓNG
SỐ RA MẮT
THỨ HAI, NGÀY 5.5.1975
ĐỊA CHỈ: 174 HIỀN VƯƠNG
ĐIỆN THOẠI: 9413
GIÁ: 50 Đ.
Và số báo ra mắt ấy đã được cả nước đón nhận, Báo Sài Gòn Giải Phóng đã lập kỷ lục vô tiền khoáng hậu của loại hình nhật báo Việt Nam: 460.000 tờ đã được người đọc hồ hởi cầm trên tay. Đó cũng là niềm tự hào của 250 nhân sự báo Giải Phóng khi đó được phân công làm Báo Sài Gòn Giải Phóng, đó là năng lượng cho mọi người nuôi dưỡng ký ức cho cuộc sống hôm nay.
Ấn tượng đầu tiên của tôi về báo Giải Phóng là bản vẽ ma két báo 16 trang. Tác giả bản ma két đó là nhà báo Trần Phong, Tổng Biên tập Báo Cứu Quốc. Ông về Nam bằng tàu không số ghé bến Khâu Băng rồi gặp chúng tôi đang làm báo địa phương. Ông tìm thấy từ tờ báo Chiến Thắng có những gì ông cần như ấn phẩm, nhà in để sau đó ông cho ra đời tờ báo đã hoài thai trên đường mòn biển Đông. Hơn sáu tháng sau, từ bản ma két tờ Báo Giải Phóng đầu tiên ra đời.