Những ‘đôi mắt’ giữa đại ngàn Vũ Quang
Giữa bạt ngàn rừng sâu của Vườn Quốc gia Vũ Quang (Hà Tĩnh), những chiếc bẫy ảnh lặng lẽ ghi lại nhịp sống của muông thú, mở ra bức tranh sinh động về sự hồi sinh của hệ sinh thái, nhưng phía sau những khung hình quý giá ấy là hành trình âm thầm, nhiều ngày băng rừng vượt suối, đối mặt với không ít hiểm nguy và thử thách của những người làm công tác bảo tồn.
Đi giữa rừng sâu để tìm một “điểm vàng”
Địa hình Vườn Quốc gia Vũ Quang có độ cao từ 50 đến 2.100m so với mực nước biển, nhiều khu vực dốc đứng, rừng rậm, suối chia cắt, mùa mưa nước dâng nhanh, lối đi thay đổi chỉ sau một đêm. Trong không gian ấy, việc tìm được một vị trí phù hợp để đặt bẫy ảnh không hề đơn giản.

Anh Đinh Trọng Hoàng, cán bộ Phòng Khoa học Kỹ thuật và Hợp tác quốc tế, Vườn Quốc gia Vũ Quang cho biết, mỗi chuyến đi thường kéo dài nhiều ngày, mang theo máy móc, pin dự phòng, lương thực và thiết bị định vị. “Địa hình ở đây thay đổi rất nhanh, có chỗ chỉ hơn 50m so với mực nước biển nhưng đi thêm vài giờ đã lên đến cả nghìn mét, nhiều khu vực giáp biên giới nên mùa mưa thường bị chia cắt, đường trơn, dốc cao, mang vác thiết bị nặng khiến việc tiếp cận từng điểm đặt máy mất rất nhiều thời gian”, anh Hoàng nói.

Sau hơn 2 giờ đi bộ xuyên rừng, tổ công tác mới dừng lại trước một lối mòn nhỏ, nơi còn in dấu chân và vết cọ xát trên thân cây. Theo anh Hoàng, việc đặt bẫy ảnh được thực hiện theo hai phương pháp: bố trí theo hệ thống lưới để bảo đảm độ phủ toàn diện và đặt theo nhận biết thực địa dựa trên kinh nghiệm quan sát dấu vết động vật. “Nếu chọn sai vị trí, hai tháng sau quay lại có thể chỉ thu được hình ảnh gió lay cành lá. Chọn đúng điểm là yếu tố quyết định hiệu quả”, anh chia sẻ.

Quy trình lắp đặt được thực hiện chặt chẽ. Bẫy ảnh được cố định ở độ cao 20–40cm so với mặt đất, ống kính chỉnh tránh ngược sáng, cảm biến hồng ngoại cài đặt để hoạt động cả ngày lẫn đêm và chụp liên tiếp 5 ảnh khi có chuyển động. Mỗi điểm đặt đều được kiểm tra pin, thẻ nhớ, độ nhạy cảm biến, góc chụp và ghi chép đầy đủ tọa độ GPS cùng thông số kỹ thuật.

Với diện tích gần 55.000 ha, 170 bẫy ảnh được bố trí theo ô lưới kết hợp thực địa, đòi hỏi cán bộ phải di chuyển qua nhiều địa hình khác nhau, có khi phải ở lại rừng nhiều ngày để hoàn thành kế hoạch. Không chỉ vất vả trong quá trình đặt máy, việc quay lại thu dữ liệu sau khoảng hai tháng cũng tiềm ẩn rủi ro khi thời tiết thay đổi, cây đổ chắn lối hoặc thiết bị bị ảnh hưởng bởi độ ẩm cao.
Mỗi bức ảnh là một bằng chứng khoa học
Sau thời gian triển khai, hệ thống 170 bẫy ảnh đã ghi nhận 58 loài động vật hoang dã. Trong đó có 5 loài đặc hữu Trường Sơn gồm thỏ vằn, mang xám Trường Sơn, mang lớn, trĩ sao và cầy vằn; cùng 5 loài có nguy cơ bị đe dọa cao như voi châu Á, lửng lợn, rái cá vuốt bé, nai và tê tê. Ngoài ra, nhiều loài như gấu chó, mèo rừng, sơn dương cũng được ghi nhận.

Trao đổi với phóng viên Báo Đại đoàn kết, ông Nguyễn Việt Hùng, Trưởng phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, Vườn quốc gia Vũ Quang cho biết, giá trị của bẫy ảnh không chỉ nằm ở hình ảnh mà ở dữ liệu đi kèm như thời gian, tọa độ, tần suất xuất hiện. “Những thông tin này giúp chúng tôi xác định khu vực phân bố của từng loài, xây dựng bản đồ điểm tập trung đa dạng sinh học để ưu tiên tuần tra và bảo vệ”, ông Hùng nói.

Theo đánh giá của các nhà khoa học trong dự án, xác suất hiện diện loài tại Vườn Quốc gia Vũ Quang cao hơn so với nhiều khu vực nghiên cứu khác. Điều này cho thấy khu vực vẫn duy trì được quần thể động vật tương đối ổn định, dù trong bối cảnh đa dạng sinh học toàn cầu suy giảm.

Tuy nhiên, ông Hùng cũng cho rằng kết quả đạt được không đồng nghĩa với việc có thể chủ quan. Diện tích rừng lớn, lực lượng bảo vệ còn hạn chế, áp lực từ hoạt động xâm hại rừng và biến động thời tiết vẫn là những thách thức thường trực. Vì vậy, dữ liệu từ bẫy ảnh là cơ sở quan trọng để điều chỉnh phương án quản lý, tăng cường tuần tra tại các khu vực có nhiều loài quý hiếm xuất hiện.

Bên cạnh hệ thống bẫy ảnh, đơn vị còn ứng dụng công nghệ SMART để quản lý tuần tra; riêng năm 2025, hơn 1.000 lượt tuần tra được thực hiện với hàng chục nghìn kilômét rừng được giám sát, toàn bộ dữ liệu tuyến đi, điểm ghi nhận hiện trường đều được cập nhật và lưu trữ trên hệ thống số.
Diện tích rừng lớn, lực lượng còn hạn chế, thời tiết thất thường và nguy cơ thiết bị hư hỏng do ẩm ướt là những khó khăn thường trực, nhưng theo ông Hùng, công nghệ chỉ là công cụ, điều quyết định vẫn là sự chủ động và trách nhiệm của người trực tiếp làm nhiệm vụ.
170 “đôi mắt” nhỏ giữa rừng sâu vẫn hoạt động ngày đêm, lặng lẽ ghi lại từng chuyển động của các loài. Thành quả là những con số cụ thể, những hình ảnh rõ nét và những bằng chứng khoa học phục vụ bảo tồn. Phía sau đó là bước chân của những cán bộ nhiều ngày bám rừng, chấp nhận gian khó để bảo đảm mỗi dữ liệu thu được đều chính xác và có giá trị cho công tác quản lý rừng lâu dài.