Những nốt nhạc và đêm khôn cùng
Tháng 10 năm 2017, khi Ủy ban Nobel xướng tên chủ nhân giải thưởng văn chương của năm, một cái tên Nhật Bản, hẳn nhiều người đã rất bất ngờ. Vì người ta cứ ngỡ, nếu là một cái tên Nhật Bản, có thể nào lại không phải Haruki Murakami, ứng cử viên thường trực của Nobel văn chương suốt nhiều năm nay? Ấy thế mà không phải thật.

Là Kazuo Ishiguro (sinh năm 1954), nhà văn Anh gốc Nhật, người từng thắng giải Man Booker năm 1989, tác giả của ba cuốn sách được dịch sang Việt ngữ từ trước khi ông thắng giải Nobel năm 2017. Một trong ba cuốn sách ấy là tập truyện ngắn (đầu tay, sau khi Kazuo Ishiguro đã xuất bản sáu tác phẩm tiểu thuyết) có tên “Dạ khúc: Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông” (An Lý dịch, Cty Nhã Nam & NXB Văn học, 2013).
Nhan đề của cuốn sách đã tóm lược chính xác những gì mà tác giả muốn nói. Năm truyện ngắn trong tập là năm câu chuyện, ở những mức độ đậm nhạt khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp, đều kể về âm nhạc và về những mối quan hệ người xung quanh âm nhạc. Kazuo Ishiguro nói gì về âm nhạc trong tập truyện ngắn đầu tay của mình? Ông không nói rằng, đại để, khi âm nhạc cất lên thì mọi lời nói đều trở nên thừa thãi. Mà ông nói, âm nhạc, ở khía cạnh thực dụng của nó, là một gợi ý không tồi để những người trẻ tuổi có thể lựa chọn, theo đuổi, đặng tạo dựng công danh sự nghiệp cho mình. Tuy nhiên đây cũng là con đường dài, đầy nghiệt ngã, với không ít chông gai và những nguy cơ bất ngờ.
Trước hết, tài năng nghệ thuật đích thực là thứ mà Thượng đế thường cực kỳ hà tiện khi chỉ ban phát cho một số ít người, để mặc số nhiều còn lại phải sống trong ảo tưởng, và có cố gắng đến mấy thì, nói như nhân vật bà Eloise McCormark trong truyện “Nghệ sỹ cello”: “họ chỉ là những gã tầm thường được đào tạo bài bản”. Nhưng những tài năng đích thực, ngay cả khi đã “có Nó”, cũng chẳng có gì đảm bảo rằng họ sẽ thành công lớn trong cái thế giới ngày càng trở nên lộn xộn và phù phiếm này. Chàng trai Tibor đầy tài năng trong truyện “Nghệ sỹ cello”, dù đã được bà Eloise McCormark khai nhãn, rốt cuộc cũng chỉ được chơi trong một dàn nhạc thính phòng nhỏ, đánh trong phòng ăn tối của một khách sạn hạng sang. Hay nghệ sỹ saxophone Steve trong truyện “Dạ khúc”, tài năng đấy, nhưng đến nước cùng vẫn đành phải nhờ bàn tay bác sỹ phẫu thuật thẩm mỹ (và tiền của gã tình địch) để có một bộ mặt mới, ngõ hầu làm thay đổi vận số…
Mặt khác, trong tập truyện ngắn này, Kazuo Ishiguro vẫn không quên nói rằng, dù thế nào thì âm nhạc vẫn vô cùng cần thiết cho thế giới tinh thần của con người. Nó cho người ta cách để gìn giữ những ký ức ngọt ngào. Nó cho người ta mơ ước. Và trên hết, nó cho người ta biết chấp nhận thực tại, dẫu thực tại có đau đớn, bế tắc, hay đáng chán ngán đến tận đâu chăng nữa. “Mưa đến hay nắng đến”, “Khu đồi Malvern”, và nhất là “Người hát tình ca”, là những truyện gây được xúc động khi khai thác khía cạnh này. Đêm trước cuộc chia tay không tránh khỏi – theo một “luật chơi” lạnh lùng của giới nghệ sỹ Mỹ, bất chấp việc hai con người đã làm vợ chồng với nhau hai mươi bảy năm – danh ca Tony Gardner hát cho người bạn đời của mình nghe những bản tình ca chất chứa kỷ niệm giữa hai người. Hát giữa bầu trời đêm Venice, trên chiếc gondola dập dềnh, hướng giọng hát về phía cửa sổ đang mở ra trên cao… sự tái lặp của cái hình ảnh lãng mạn đặc chất Italia ấy đã khiến cho cuộc chia tay của các nhân vật trong truyện “Người hát tình ca”, không thể nói khác được, trở nên một cuộc chia tay đẹp.
Cả năm truyện ngắn trong “Dạ khúc: Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông” đều được kể từ đại từ ngôi thứ nhất số ít. Người kể chuyện xưng Tôi kể mọi chuyện với một người nghe giả định - có thể là một người bạn: “anh nghĩ mà xem…” – vì thế, văn phong chủ đạo ở đây rất gần với “văn nói”. Nó đơn giản, thân mật, và nhiều khoảng lặng, giống như những quãng nghỉ lấy hơi, những ưu tư bất chợt, những ngập ngừng tìm chữ diễn đạt trong câu chuyện dài kể lúc đêm muộn.
Tập truyện ngắn của Kazuo Ishiguro, có thể nói, là những nốt nhạc đêm. Rất khẽ, nhưng ngân rất dài, như sầu muộn, như nuối tiếc trước cái đẹp thoáng chốc của nghệ thuật và của đời người. Nhưng những nốt nhạc đêm ấy của Kazuo Ishiguro, xin đừng quên, chúng ngân lên lần đầu tiên và trọn vẹn nhất, chính là bằng Anh ngữ. Và cái chi tiết tưởng như lặt vặt này dẫn chúng ta đến một thực tế lớn hơn nhiều: nền văn chương Anh ngữ có thể sẽ đến lúc, nếu nhìn lại sự phong nhiêu kỳ diệu của mình, phải nói lời biết ơn với những tác giả vốn không sinh ra đã là người thuộc Vương quốc Anh (hoặc Hợp chúng quốc Hoa Kỳ), những tác giả không nghiễm nhiên được nhận tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ, nhưng lại dựng lên văn nghiệp đáng nể bằng tiếng Anh.
“Giữa lòng tăm tối” là câu chuyện do Charlie Marlow, một gã đàn ông châu Âu vốn mê thích bản đồ từ nhỏ, ưa lấy sự khám phá những vùng trống trên bề mặt quả địa cầu làm niềm vui sống, kể lại với các bạn về chuyến phiêu lưu vào sâu trong đất Congo thuộc Bỉ của mình. Một châu Phi với nhiều màu đen dần hiện lên theo từng diễn biến câu chuyện của Marlow. Đen của những vạt rừng xanh sẫm, hùng vỹ, khổng lồ. Đen của những mặt sông bị sục bùn tận đáy. Đen của màn đêm như bịt lấy mắt người, man dại, bí hiểm. Và dĩ nhiên, đen của da châu Phi, thứ màu đen bọc lấy những nhân dạng còm cõi đang chết mòn trong cuộc tận độ khai thác thuộc địa của những ông chủ thực dân da trắng. Marlow (hay chính là Joseph Conrad?) ái ngại trước những người châu Phi bản xứ, và không khinh bỉ họ. Không những thế, đôi lúc, gã còn khâm phục họ như khâm phục một hiện thể tuyệt vời của “cái sống”: “Họ hò hát, người đẫm mồ hôi, dung mạo như những chiếc mặt nạ dị dạng, cái đám này. Nhưng họ có xương cốt, có cơ bắp, có một sinh lực hoang dại, một động năng mãnh liệt, tự nhiên và chân thực như con sóng dọc bờ biển của họ. Họ không cần biện giải cho sự hiện diện của mình. Nhìn họ khiến tôi cảm thấy cực kỳ dễ chịu”.
Nhưng điều lạ lùng là Marlow (hay Joseph Conrad?) có vẻ như không thấy ở số phận thê thảm của những người châu Phi bản xứ kia một bất công cần phải được xóa bỏ, và do vậy, dường như gã cũng không thấy ở cuộc vơ vét bóc lột của những kẻ thực dân châu Âu kia một tội ác đáng phải bị trừng phạt. Giữ tư cách một khách hải hồ không đứng về bên này cũng chẳng thuộc về bên kia, Marlow ghi nhận mọi sự kiện đã và đang diễn ra và suy ngẫm về chúng một cách điềm tĩnh, thậm chí lạnh lùng, theo kiểu một triết gia. Và gã thấy, cuộc đi sâu vào lòng châu Phi của gã chính là dấn thân vào “trái tim của một vùng tăm tối khôn cùng” – “Heart of Darkness”, cái tên của tác phẩm, trong nguyên tác Anh ngữ – và hơn thế, một vùng vô phương thấu hiểu (cụm từ này được tái lặp nhiều lần). Trong mọi trường hợp, gã đều cố hiểu cái vùng tăm tối khôn cùng và vô phương thấu hiểu ấy, để rồi nhận ra tất cả đều là vô phương.
Châu Phi và sự thê thảm của nó, với Marlow, là vô phương. Nhưng nhờ nhìn vào châu Phi như nhìn vào một tấm gương, mà với Marlow, châu Âu và vị thế đắc thắng của nó cũng là vô phương. “Cuộc chinh phục trái đất, phần lớn đồng nghĩa với việc chiếm đoạt của người khác màu da hoặc mũi tẹt hơn tí chút, là thứ chẳng đẹp đẽ gì nếu nhìn thật kỹ. Cái duy nhất cứu vãn nó là một ý niệm…”. Marlow từng triết lý như thế khi bắt đầu câu chuyện của mình. Nhưng mà ý niệm nào? Mở rộng và đẩy cao quyền năng cùng sự tự do của con người trước/ trong giới tự nhiên, hay chỉ đơn giản là cái dục vọng “bứt sản vật khỏi lòng đất”, như Marlow nghe ra từ câu chuyện của đám người nhiệt huyết tự xưng là Đoàn thám hiểm Eldorado, để rồi rốt cuộc khi trở lại châu Âu già cỗi, họ lại ngày ngày sống trong cảnh: “người người hối hả trên đường phố để moi tí tiền của nhau, để ngốn ngấu thứ đồ ăn ô uế, nốc thứ bia độc hại, mơ những giấc mơ hèn mọn và ngu ngốc”? Nỗi giày vò tâm trí này của Marlow được Joseph Conrad giải đáp, mà như không hề giải đáp, một cách cực kỳ phức tạp bằng nhân vật Kurtz, một người Đức giữ vai trạm trưởng trạm thu mua ngà voi. Kurtz là nhiều trong một: gã lái buôn lọc lõi, kẻ thực dân tàn bạo, người phiêu lưu gan dạ, nhà báo, nhà khoa học xuất sắc, một diễn thuyết gia thiên tài, một phù thủy da trắng đầy quyền năng đối với những người da đen, một nhà tư tưởng luôn khao khát thứ “công lý” theo cách nghĩ của riêng mình. Kurtz, cả cái sống và cái chết, đều kinh dị một cách huy hoàng, đầy ám ảnh.
Trước khi chết, Kurtz trăn trối mấy tiếng: “Nỗi kinh hoàng”! Câu chuyện mà Charlie Marlow kể lại với các bạn mình, thực sự đã có thể khép lại ở đấy. Nhưng cuốn tiểu thuyết của Joseph Conrad thì không khép lại. Xuất bản năm 1899, năm cuối cùng của thế kỷ XIX, “Giữa lòng tăm tối” như lời tiên báo về một thế kỷ XX kinh hoàng đang sắp sửa, với tất cả những ung nhọt đau đớn và ghê tớm nhất của nó: chế độ thực dân.