Báo Đại Đoàn Kết Góc nhìn Đại Đoàn Kết

Nông dân lĩnh lương tháng

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Nông dân lĩnh lương tháng

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Cụm từ “lương tháng” đã quá quen thuộc với mọi người trong xã hội. Song, lâu nay người ta vẫn “mặc định” là vốn chỉ có cán bộ, công chức, viên chức mới có lương tháng để lĩnh, chứ chưa hề có chuyện nông dân lĩnh lương tháng. Sở dĩ vậy là vì từ bao đời nay người nông dân tự mình vừa làm chủ kiêm luôn người làm thuê trên mảnh đất giao khoán của Nhà nước. Nay, một bộ phận nông dân ở tỉnh Tuyên Quang có thu nhập đều đặn hàng tháng nhờ có sự liên kết 4 nhà. Người ta gọi vui đó là “lương tháng của nôn

Nông dân lĩnh lương tháng

Ảnh: Trần Thương.

Trong những năm qua, nhằm giúp nông dân đỡ vất vả hơn, thoát nghèo bền vững, Đảng và Nhà nước luôn định hướng chủ trương và khuyến khích sự liên kết 4 nhà (Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông) trong lĩnh vực tam nông (nông nghiệp, nông dân và nông thôn).

Từ đó, người nông dân sẽ có cơ hội tiếp cận những giống cây, con mới có năng suất, chất lượng cao, đồng thời sẽ được hướng dẫn, chuyển giao công nghệ tiên tiến giúp tăng năng suất cây trồng, vật nuôi và tiêu thụ sản phẩm.

Thực tế khi triển khai áp dụng phương thức liên kết 4 nhà ở các địa phương thì đây quả là bài toán vô cùng hóc búa, đau đầu của các cơ quan quản lý.

Do có những mục tiêu lợi ích khác nhau, chưa tìm được tiếng nói chung nên mối liên kết giữa nhà khoa học, doanh nghiệp với nông dân và ngược lại khá lỏng lẻo, khó gắn kết.

Có thể thấy hiện đa phần nông dân vẫn chỉ sản xuất manh mún, tự phát, chưa thực sự nhận thức được mức độ quan trọng của việc chuyển giao công nghệ để tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

Chính vì sản xuất nhỏ lẻ không có sự tập trung vào một đầu mối, lại chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu về chất lượng sản phẩm nên việc tiêu thụ gặp không ít khó khăn.

Trong khi đó, các nhà khoa học cũng chưa nhận thấy lợi ích thật sự của việc đầu tư công nghệ cho nông dân. Đa số doanh nghiệp đều làm ăn với nông dân theo phương thức mùa vụ mà không có ý định thực sự gắn kết lâu dài nên không quan tâm đầu tư sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông sản cho nông dân.

Và đương nhiên sự tương tác ngược là điều không thể tránh khỏi, người nông dân không tin cậy để có thể cộng tác lâu dài với doanh nghiệp mà cứ ai trả giá cao thì bán dẫn đến phá vỡ mối liên kết cần có.

Hiểu được điều đó, Ban Giám đốc Công ty chè Mỹ Lâm (xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, Tuyên Quang) cho rằng, mô hình sản xuất phổ biến hiện nay tại các nông trường chè, HTX bộ lộ rõ sự khập khiễng và không phù hợp, các doanh nghiệp chưa khẳng định được vai trò điều hành lực lượng sản xuất, dẫn đến tư liệu sản xuất chưa phát huy hết hiệu quả.

Luôn trăn trở về một mô hình sản xuất tập trung quy mô lớn, nhưng lại không thể gom ruộng đất đang manh mún trong dân, lãnh đạo Công ty chè Mỹ Lâm đã mạnh dạn thay đổi tư duy, áp dụng mô hình sản xuất mới để không phải GPMB mà vẫn đạt được mục đích cuối cùng là sản lượng nông sản dồi dào.

Cách đây chỉ một năm thôi, cấu trúc quan hệ sản xuất giữa Công ty chè Mỹ Lâm và nông dân vẫn là mối liên kết truyền thống thông qua hợp đồng khoán sản phẩm mua chè búp tươi.

Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không cần quan tâm nông dân trồng chè làm như thế nào, miễn tới thời vụ có chè bán cho công ty là được.

Mô hình liên kết này liên tục nảy sinh những mâu thuẫn lợi ích. Nhiều người trồng chè không áp dụng các biện pháp cải tiến kỹ thuật cũng như các giải pháp công nghệ, vì chi phí đầu tư phát sinh quá lớn hoặc vượt quá khả năng của họ, vì thế dẫn tới năng suất thấp, chất lượng chè không cao. Và hệ quả đương nhiên là thu nhập của người trồng chè thấp, không ổn định.

Còn về phía nhà máy với mối liên kết kiểu này cũng sẽ phải gánh chịu những hệ lụy xấu phát sinh gây ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển.

Do nguồn cung không được dồi dào, lại không thể kiểm soát về chất lượng sản phẩm chè nên khó mà đáp ứng kịp thời các đơn đặt hàng lớn từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Một khi không đảm bảo được đơn hàng đã nhận thì uy tín của công ty cũng vì thế mà bị giảm sút, không bán được hàng thì tất nhiên doanh thu sẽ không thể cao.

Và điều quan trọng là khi đã mất uy tín thì doanh nghiệp sẽ mất dần khách hàng với những đơn hàng lớn. Cái xảy nảy cái ung, từ thất bại này sẽ dẫn đến thất bại khác, doanh nghiệp cũng khó có thể ngóc đầu được dậy.

Hiện, Công ty chè Mỹ Lâm đang áp dụng mô hình liên kết giữa nhà máy và hộ sản xuất theo cách tập trung và hưởng lương dựa trên cơ sở phân công công việc hợp lý và gắn kết lâu dài vì lợi ích chung mang tính bền vững.

Ở đây, người nông dân đóng vai trò là một chủ thể quan trọng trong mối quan hệ sản xuất với doanh nghiệp trên cơ sở phân công lao động dựa vào thế mạnh và phát huy hết tiềm năng của mỗi bên. Người nông dân vẫn là chủ thể trực tiếp quản lý và hưởng thành quả lao động của mình.

Song, họ không cần phải quá vất vả và lo lắng cho việc được mùa hay mất mùa, bởi dù thời tiết có không chiều lòng người thì họ vẫn có thu nhập đều đặn hàng tháng từ phía Công ty Chè Mỹ Lâm.

Cụ thể, đất vẫn là đất của người trồng chè, song sản phẩm của họ được phía doanh nghiệp định giá từ đầu mùa vụ rồi trả dần hàng tháng theo hình thức tiền lương, để họ chăm sóc cây chè.

Cái hay và lợi cho người trồng chè ở chỗ, dù mất mùa, thất bát thì giá trị sản phẩm được định từ đầu mùa vụ vẫn được giữ nguyên, còn trong trường hợp được mùa thì họ sẽ được doanh nghiệp trả thêm vào tiền lương hàng tháng.

Còn nữa, nếu như trước đây người trồng chè phải vất vả lo chăm bón cây chè từ A đến Z, thì nay tất cả vật tư nông nghiệp, thu hoạch sản phẩm... hoàn toàn do các đội sản xuất của Công ty chè Mỹ Lâm đảm nhiệm.

Cách làm trên đòi hỏi tất cả các bộ phận, mắt xích của dây chuyền sản xuất đều phải nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ để hưởng lương. Người nông dân không còn lo lắng về thiên tai, địch họa vì rủi ro do thời tiết, hạn chế năng suất, sản lượng đều do doanh nghiệp chịu trách nhiệm.

Phía doanh nghiệp thì cũng an tâm hơn về nguồn cung ứng sản phẩm cũng như chất lượng và “độ sạch” của sản phẩm. Một công lợi cả đôi đường, nông dân và doanh nghiệp có thể gắn kết với nhau lâu dài, bền vững thật đáng lưu tâm và nhân rộng ra những nơi khác.

Lê Anh Đức