Nông nghiệp thời TPP
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ mở ra cơ hội xuất khẩu cho hàng hóa nông nghiệp Việt Nam vào các thị trường lớn. Tuy vậy, nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam đang đứng trước nguy cơ “thua trên sân nhà” vì sức cạnh tranh yếu do chưa áp dụng công nghệ cao, quy mô sản xuất nhỏ, vốn đầu tư thấp hoặc chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế. Đó là nhiều ý kiến được đưa ra tại Diễn đàn kinh doanh “Đầu tư nông nghiệp thời TPP” vừa diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Cơ giới hóa nông nghiệp để tăng năng suất, tăng tính cạnh tranh. Ảnh: TL.
Nhiều cơ hội và thách thức
Ngành nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới sau TPP hoàn tất đàm phán và chuẩn bị được ký kết. Hàng loạt tập đoàn lớn đầu tư mạnh mẽ vào lĩnh vực này những năm gần đây đang tạo xu hướng và lan tỏa đến nhiều doanh nghiệp khác.
“Tham gia TPP trong thời gian tới, những tác động của TTP đến ngành nông nghiệp là điều không thể tránh khỏi. Cơ hội và thách thức sẽ song hành cùng nhau, nhưng ngành nông nghiệp nước nhà sẽ đón cơ hội và hạn chế các thách thức ở mức thấp nhất là điều chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng để tham gia hội nhập TPP” - Thứ trưởng Vũ Văn Tám nhấn mạnh.
Hiện nay tổng vốn đầu tư của toàn xã hội vào nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 5-6%, đặc biệt là doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp chỉ chiếm 1% đã làm cho nông nghiệp từ vị trí trụ đỡ cho nền kinh tế, đang dần chuyển sang trạng thái cần được tiếp sức.
Điều đó thể hiện rất rõ trong hầu hết các báo cáo về tình hình kinh tế xã hội đã xem tỷ trọng nhóm ngành nông nghiệp được thu hẹp là một thành tích. Trong những năm vừa qua, các địa phương đã xây dựng rất nhiều khu công nghiệp (KCN) mà chủ yếu là chế biến gia công trên đất nông nghiệp.
Mặc dù nông nghiệp Việt Nam đóng góp khoản 20% tổng GDP, 30% giá trị xuất khẩu và tạo việc làm cho khoảng 50% lao động nhưng đến nay sản xuất nông nghiệp trong nước vẫn đặc trưng với quy mô nhỏ dưới hình thức hợp tác xã (HTX), hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ.
Quy mô của các đơn vị sản xuất của các đơn vị sản xuất này căn cứ theo số lượng lao động và vốn, thường sử dụng dưới 10 lao động và có số vốn dưới 5 tỷ đồng. Thậm chí, quy mô một số đơn vị rất nhỏ, chỉ có một lao động hoặc sử dụng người tàn tật và vốn chỉ vài chục ngàn đồng (khoảng vài USD). Chính sự nhỏ lẻ đó đã ảnh hưởng nhất định tới sự phát triển của ngành nông nghiệp.
Nội dung đàm phán của TPP là về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và các vấn đề phi thương mại như: mua sắm chính phủ, môi trường, lao động, công đoàn, hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Do đó, đối với sản phẩm chăn nuôi sẽ chịu tác động về thuế nhập khẩu sản phẩm vào các nước tham gia đàm phán, hàng rào kỹ thuật về chất lượng, chỉ tiêu an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Thách thức đặt ra cho chăn nuôi trong nước là làm sao để giảm giá thành sản phẩm, đạt chất lượng để cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu, đồng thời xây dựng các vùng chăn nuôi phục vụ cho xuất khẩu sang các nước tham gia TPP.
Tham gia TTP, ngành chăn nuôi sẽ gặp không ít khó khăn.
Nhanh chóng đáp ứng các tiêu chí
Trong tham luận của mình, ông Phan Minh Báu - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Đồng Nai cho biết, Đồng Nai là tỉnh nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, có đủ điều kiện tự nhiên và xã hội phù hợp để phát triển nông nghiệp hàng hóa. Trong đó, ngành chăn nuôi phát triển khá mạnh với hai vật nuôi chủ lực là heo và gà.
Hiện nay, đàn heo của tỉnh là 1,5 triệu con, chăn nuôi trang trại chiếm khoảng 67,5% tổng đàn, với 2.188 trang trại và 20.800 hộ. Tổng đàn gà hiện nay khoảng 1 tỷ con, chăn nuôi trang trại chiếm khoảng 87,04% tổng đàn với 455 trang trại và 32.400 hộ nuôi…
Ông Báu nêu rõ, để tham gia vào TPP sản phẩm chăn nuôi Đồng Nai nói riêng và cả nước cần phải đáp ứng được các điều kiện sau: Đối với sản phẩm phục vụ trong nước, cần phải giảm giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm và thực hiện được truy xuất nguồn gốc; đối với sản phẩm xuất khẩu, cần giảm giá thành sản xuất, đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật theo yêu cầu và truy xuất được nguồn gốc sản phẩm. Thực hiện chiến lược phát triển chăn nuôi hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, đồng thời hội nhập với các nước trong khu vực và chuẩn bị ứng phó khi tham gia TPP.
Còn ông Lê Văn Hoàng- Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Long An cho rằng, thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp của Long An là phát triển nông- lâm- ngư kết hợp với những cây trồng, vật nuôi chủ lực như: Lúa, thanh long, chanh, rau màu các loại, khoai mỡ, bò sữa, bò thịt, tôm nước lợ… Đến nay tỉnh đã bước đầu cơ bản hình thành các vùng sản xuất hàn hóa nông sản tập trung theo lợi thế từng vùng sinh thái.
Để tăng cường, tìm kiếm cơ hội mời gọi các doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức trong và ngoài nước đầu tư vào các cây trồng, vật nuôi chủ lực, tỉnh đã xây dựng các dự án mời gọi đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời tranh thủ các nguồn vốn viện trợ phi chính phủ nước ngoài, tỉnh đã tiếp nhận và đang triển khai thực hiện các dự án: Dự án rừng và đồng bằng, dự án tránh thích ứng ngược với biến đổi khí hậu thông qua canh tác nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu và phục hồi các sinh cảnh đất ngập nước ở Láng Sen - Việt Nam và dự án “Cấp nước và trữ nước an toàn hộ gia đình” đã góp phần tạo chuyển biến tích cực đời sống khu vực nông thôn và xây dựng nông thôn mới nhằm hội nhập tốt nhất khi tham gia TPP.
Là một tỉnh được đánh giá có nhiều lợi thế trong sản xuất nông nghiệp, Giám đốc NN&PTNT tỉnh Lâm Đồng cho hay, tỉnh đang quyết tâm thực hiện lành mạnh hóa môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn tỉnh nói chung và đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp nói riêng có được điều kiện kinh doanh thuận lợi nhất, từ đó tranh thủ được các nguồn lực tư nhân để hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp nhằm nắm bắt được thời cơ, khai thác được hết tiềm năng thế mạnh để phát triển một cách bền vững trong thời kỳ hội nhập TPP.