Nông sản xuất ngoại: Đừng 'tham bát bỏ mâm'
Để nông sản của Việt Nam xuất khẩu được nhiều, trao đổi với ĐĐK, ông Lương Thanh Nghị- Đại sứ Việt Nam tại Australia cho rằng: Phải thay đổi căn bản cách hành xử theo kiểu “tham bát bỏ mâm”; cần có tầm nhìn dài hạn, đầu tư lâu dài, tuân thủ chặt chẽ quy trình kỹ thuật mà các nhà khoa học và cơ quan chức năng hướng dẫn. Như thế sẽ tạo ra thương hiệu cho hàng hóa, tạo ra sức cạnh tranh.
Ông Lương Thanh Nghị.
PV:Thưa ông, là Đại sứ Việt Nam tại Australia, từ thực tiễn, ông có thể cho biết hiện các mặt hàng nông sản của ta đang gặp phải những rào cản nào khi vào thị trường nước ngoài?
Đại sứ Lương Thanh Nghị: Đối với ngành ngoại giao, ngoại giao phục vụ phát triển nói chung, và phát triển kinh tế nói riêng là một trong những trọng tâm công tác của tất cả các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài. Liên quan đến ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế, các cơ quan đại diện đặc biệt chú trọng tới việc xúc tiến, quảng bá giới thiệu nông sản Việt Nam trong đó có rau quả, hàng thủy sản.
Đối với rau quả, hiện chúng ta đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các thị trường đòi hỏi chất lượng cao như: Mỹ, Nhật, Australia, EU.
Vì với những nước phát triển cao họ đòi hỏi về mặt kỹ thuật như: Vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch, bảo quản hàng hóa, đóng gói nhãn hiệu đòi hỏi chất lượng và trình độ rất là cao. Đó cũng là những rào cản mà các nước này đặt ra với mặt hàng nông sản Việt Nam.
Từ những đòi hỏi mà các nước sở tại đặt ra với mặt hàng nông sản Việt Nam, theo ông, cần những giải pháp nào để nông sản Việt ra với thế giới?
- Cái chính là do ta quyết định. Đầu tiên phải nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo các yêu cầu vệ sinh dịch tễ, đảm bảo về kiểm dịch thực vật, đảm bảo về quy cách đóng góp nhãn hàng. Đó là các tiêu chuẩn mà các nước này đặt ra đối với các hàng hóa của các nước khác khi xuất khẩu vào thị trường họ.
Để làm được việc đó tôi nghĩ phải thay đổi căn bản tư duy nông nghiệp, phải có sự phối hợp chặt chẽ. Nói nôm na là 4 nhà: Nhà nước; nhà khoa học; nhà doanh nghiệp; nhà nông. Các cơ quan nhà nước phải thiết lập được cơ chế hệ thống pháp luật để điều chỉnh liên quan đến mặt hàng nông sản, tạo ra các cơ chế chính sách, hỗ trợ nông dân, hỗ trợ các nhà khoa học, hỗ trợ doanh nghiệp.
Vì thứ nhất trước khi hàng nông sản của ta xuất ra thị trường bao giờ cũng phải có kiểm dịch thực vật và phải đáp ứng được yêu cầu của họ. Thứ hai là chiếu xạ nhưng hiện ta chỉ có vài trung tâm chiếu xạ ở Hà Nội mới đi vào hoạt động, và 2 cơ sở tư nhân của TP Hồ Chí Minh.
Trước mắt thì có thể đáp ứng được nhưng về lâu dài khó có thể đáp ứng trước yêu cầu của thị trường. Thứ ba cần quy hoạch được vùng trồng, ví dụ như vải thiều chỉ xuất được ở những vùng nào?
Tất cả các cái đó Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và các cơ quan chức năng cần phối hợp với nhau có quy hoạch hướng dẫn bà con; tạo điều kiện cho các nhà khoa học vào cuộc để nghiên cứu ra các giống cây trồng mới có chất lượng, đáp ứng yêu cầu về mặt vệ sinh an toàn thực phẩm.
Đối với các doanh nghiệp phải có sự hỗ trợ về vốn, kinh nghiệm thị trường, kinh nghiệm để sản xuất ra các mặt hàng có giá trị cao, giúp đỡ nông dân làm sao vừa sản xuất ra mặt hàng chất lượng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch hạn chế tối đa giá thành sản xuất để hạ giá thành. Vì mặt hàng nông sản của ta hiện nay phải cạnh tranh với hành nhiều nước như Trung Quốc, Thái Lan, Philippinnes...
Để làm điều đó phải cạnh tranh về chất lượng kiểm dịch, an toàn thực phẩm. Cái rất quan trọng là hàng hóa chúng ta sản xuất ra thì thời gian bảo quản phải dài. Chứ hiện nay vải xuất sang Úc chỉ giữ được 1 tuần-10 ngày, nhưng vải Trung Quốc có thể giữ được cả tháng.
Vấn đề đặt ra là từ nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học cho đến nhà nông phải phối hợp với nhau, cùng tạo dựng một thương hiệu mạnh cho hàng hóa nông sản Việt Nam và đó mới là điều quan trọng. Cái nữa là nhà nông không nên “ tham bát bỏ mâm” mà cần có tầm nhìn dài hạn, đầu tư lâu dài, tuân thủ chặt chẽ quy trình kỹ thuật khoa học công nghệ mà các nhà khoa học và cơ quan nhà nước hướng dẫn. Như thế sẽ tạo ra thương hiệu cho hàng hóa, tạo ra sức cạnh tranh.
Ông nghĩ sao về vấn đề nghiên cứu thị trường hiện nay của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài? Và làm sao để trong nước biết được thị trường nước ngoài cần gì? để sản xuất?
- Nghiên cứu thị trường ngoài nước là công việc thường xuyên mà cơ quan đại diện phải làm. Đặc biệt là vai trò của cơ quan thương vụ Việt Nam ở nước ngoài. Ví dụ như Australia hàng tháng có một bản tin về thị trường của nước này cho các doanh nghiệp Việt Nam. Đồng thời cũng có một bản tin cho các doanh nghiệp bên Australia về thị trường của ta.
Hay ở Mỹ, Nhật, Pháp bộ phận thương vụ thường xuyên làm các nghiên cứu đánh giá thị trường đồng thời cũng cảnh báo cho các doanh nghiệp trong nước, các cơ quan chức năng trong nước biết những rào cản mình phải vượt qua để mà chuẩn bị.
Ví dụ, vải thiều Việt Nam vào được Australia năm 2015 phải mất 12 năm đàm phán và tìm hiểu thị trường. Họ phải trải qua một quá trình đánh giá rủi ro là vải vào nước họ thì có ảnh hưởng gì đến người nông dân Australia hay không?
Hay xoài bắt đầu đàm phán với phía bạn từ năm 2009 nhưng đến năm nay họ mới bắt đầu cấp phép cho xoài của ta. Vừa rồi trong các cuộc gặp với lãnh đạo cấp cao của ta, phía bạn có cam kết sẽ tiến hành đánh giá rủi ro với trái thanh long, cố gắng rút ngắn thời gian để hàng nông sản Việt sớm được vào thị trường Australia.
Một vấn đề nữa là giá vận chuyển, doanh nghiệp cho đến hãng vận chuyển làm sao đồng bộ và phối hợp với nhau để giảm giá thành xuống. Lúc đầu quả vải của ta vào Australia có giá 22 đô la Australia/1 kg trong khi đó vải của Trung Quốc chỉ 14-15 đô la Australia. Sau này có sự hỗ trợ về vận chuyển của Việt Nam Airline thì giá thành giảm xuống.
Năm nay chiếu xạ đã chiếu xạ ngay từ Hà Nội, trước đây phải chuyển vào TP Hồ CHí Minh. Bây giờ có sự liên hoàn từ thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch chiếu xạ, kiểm dịch và xuất sẽ làm giảm giá thành thì mới tạo sức cạnh tranh với bên ngoài.
Thời điểm TPP sắp đến, theo ông liệu nông sản và nông nghiệp Việt Nam có thể cạnh tranh với thế giới không?
- Thực ra TPP có tác động rất lớn đến nông nghiệp nói chung nhưng riêng với mặt hàng nông sản tôi nghĩ không có ảnh hưởng lớn. Ví dụ như thị trường Australia thì thị trường hoa quả của ta vào đó với mức thuế suất bằng 0 do ta có cơ chế Australia-New Zealand-Việt Nam đều là thành viên của hiệp định thương mại ASEAN với các đối tác nên hàng hóa của ta không có ảnh hưởng gì cả.
Với TPP sẽ có nhiều tác động qua lại có thể thị trường còn mở rộng hơn nữa. Vấn đề ta có nắm bắt được thời cơ, cơ hội hay không? có tạo ra được thương hiệu trên thị trường thế giới? Bây giờ cà phê chúng ta mới chủ yếu xuất nguyên liệu thô, cà phê Việt Nam chiếm 60% tổng lượng cà phê nhập khẩu của Australia nhưng chủ yếu là nguyên liệu thô và không ai biết đến là cà phê Việt Nam cho nên bây giờ phải tạo ra được thương hiệu riêng của mình.
Hiện nhiều mặt hàng của ta khi vào Australia phải đi qua nước thứ ba hoặc đối tác thứ ba, tự nhiên là mình mất thương hiệu. Quan trọng nhất là tạo dựng được thương hiệu của mình cho mặt hàng nông sản.
Xin trân trọng cảm ơn ông!