Báo Đại Đoàn Kết Tinh hoa Việt

Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên mới

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên mới

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Nghị quyết 80 - NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định tầm nhìn đến năm 2045, công nghiệp văn hoá, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP. Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam do NSND Vương Duy Biên làm Chủ tịch được thành lập, với vai trò là nơi kết nối các cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, sáng tạo và công nghiệp nội dung. Nhằm hướng đến việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp văn hóa, bảo tồn và lan tỏa các giá trị truyền thống thông qua các hoạt động giao lưu, hợp tác và đổi mới sáng tạo.

Trò chuyện với NSND Vương Duy Biên - nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch; Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam; Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam về các giải pháp để đưa nghị quyết phù hợp với thực tiễn phát triển hiện tại trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật:

NSND Vương Duy Biên.
NSND Vương Duy Biên.

NSND Vương Duy Biên: Nghị quyết 80 - NQ/TW của Bộ Chính trị có nhiều nội dung mới và hay, mang tính cụ thể, phù hợp với thực tiễn đời sống. Trong nghị quyết, ngày 24/11 được chọn là Ngày Văn hóa Việt Nam, ngày nghỉ lễ của quốc dân, đồng bào. Như vậy, văn hóa không còn là điều gì xa vời mà rất thiết thực với người dân. Người dân được nghỉ lễ, thụ hưởng thiết thực, như được giữ nguyên ngày lương, vì thế, mọi người dân đều nhớ có ngày dành cho văn hóa Việt Nam, giá trị tinh thần được tôn vinh.

Trong bối cảnh hiện nay, vị thế, tiềm lực đất nước đã khác. Sự quan tâm của Đảng và nhà nước đến văn hóa nghệ thuật cũng mới và đổi khác. Công nghiệp văn hóa có điều kiện đầu tư và phát triển. Chúng ta được học hỏi nhiều kinh nghiệm của các nước đi trước, nhất là với những nước đã thành công về công nghiệp văn hóa. Trong thời điểm này, tư duy của lãnh đạo nhà nước và trong lĩnh vực văn hóa rất quan trọng, nhờ thế văn hóa được đi sâu vào đời sống. Bên cạnh đó, cần có sự tương đồng trong tư duy, cùng chung nhận thức, từ trung ương đến địa phương, từ người quản lý, sáng tạo văn hóa, đến người dân. Khi cùng chung nhận thức, ý chí thì văn hóa nói chung và công nghiệp văn hóa nói riêng sẽ có những đột phá từ nay đến năm 2045.

PV: Như ông nói, các mục tiêu phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới đã trở nên rõ ràng cụ thể, trong đó có mục tiêu xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật…

Trong Nghị quyết 80, các lĩnh vực điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật được nhấn mạnh cho việc xây dựng thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa. Ba lĩnh vực này có sức lan tỏa, hòa nhập vào thế giới nhanh và ít rào cản ngôn ngữ. Năm 2025 vừa qua, có thể thấy lĩnh vực âm nhạc và điện ảnh đã có được những thành tích đáng ghi nhận. Bộ phim điện ảnh “Mưa đỏ” đã xác lập kỷ lục phòng vé, thu về hơn 700 tỷ đồng với sức lan tỏa mạnh mẽ đến hàng triệu người dân, phim “Địa đạo - Mặt trời trong bóng tối” doanh thu gần 200 tỷ đồng và phim “Tử chiến trên không” thu được hơn 250 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các Đại nhạc hội diễn ra, thu hút hàng chục ngàn người tham gia mỗi chương trình, với sự đầu tư tốt về chất lượng âm nhạc, hình ảnh, âm thanh, cho thấy sự chuyên nghiệp trong khâu tổ chức và tư duy. Nhiều sự kiện âm nhạc Việt Nam đã được trình diễn tại các nước trên thế giới. Một số nghệ sĩ dự thi các giải thưởng âm nhạc quốc tế cũng đạt thành tích cao. Còn với mỹ thuật, ngay từ những năm đổi mới, từ những năm 1986 đến 1990, mỹ thuật chủ động đi ra quốc tế, với rất nhiều triển lãm của họa sĩ Việt Nam tại nước ngoài, sự giao dịch tác phẩm trong thị trường mỹ thuật rất sôi động. Vì thế, mỹ thuật cũng là một trong những lĩnh vực cần ưu tiên vì phù hợp trong việc xây dựng, phát triển các liên hoan, sự kiện tầm quốc tế.

Nghị quyết 80 ra đời, cùng với Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó có “phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam lớn mạnh, có khát vọng, năng lực, đạo đức và văn hóa kinh doanh”, chắc chắn chúng ta sẽ thu hút được nhiều nguồn lực từ bên ngoài. Tuy nhiên, để thực hiện được các mục tiêu nghị quyết đề ra thì phải có chính sách phù hợp đi kèm. Ví dụ như chính sách thuế với doanh nghiệp, như với việc họ đầu tư cho văn hóa thì phải giảm thuế cho họ. Ví dụ 100 tỉ tôi đóng thuế, mà tôi đầu tư tiền đó cho một giải thưởng, hay một dự án, sự kiện văn hóa thì thương hiệu sẽ được truyền thông, được nhắc tới theo cách có ý nghĩa. Hiện tại, chúng ta cần có chính sách chi tiết, cụ thể, thực tế, phù hợp để đưa được nghị quyết vào cuộc sống.

Tương đồng với những phát biểu của ông, về việc xã hội hóa các dự án, chương trình, sự kiện văn hóa, trong nghị quyết, có nêu việc xây dựng các quỹ văn hoá, nghệ thuật theo mô hình công tư?

Thực ra chúng ta đã có nhiều quỹ về văn hóa mà hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Vì nếu sử dụng ngân sách nhà nước, phải trải qua nhiều thủ tục. Còn với mô hình công tư, biên độ rộng và linh hoạt, việc đầu tư sẽ không bị cứng nhắc. Khi xây dựng theo mô hình công tư, đối tượng văn nghệ sĩ được quan tâm, đầu tư sẽ mở rộng từ những chương trình nghệ thuật do nhà nước, đến chương trình do tư nhân sản xuất, từ những người tham gia các hội nghề nghiệp, đến nghệ sĩ tự do, miễn sự sáng tạo nên tác phẩm nhằm phục vụ tích cực tinh thần nhân dân, mang giá trị chân thiện mỹ.

Chương trình “Tổ quốc trong tim” tổ chức vào dịp A80.
Chương trình “Tổ quốc trong tim” tổ chức vào dịp A80.

Còn về  chính sách đãi ngộ xứng đáng với nghệ nhân (dân gian), nghệ sĩ thì thế nào, thưa ông?

Nhiều lần họp bàn tại các hội văn học nghệ thuật, tôi nhấn mạnh việc chúng ta không chỉ quan tâm đến hội viên của mình, với nhiều văn nghệ sĩ tự do vẫn độc lập sáng tạo cũng nên có sự quan tâm về tinh thần, ghi nhận các hoạt động của họ và tôn vinh họ. Chính sách của nhà nước có đề cập đến vấn đề này, phong danh hiệu cho những văn nghệ sĩ tự do không thuộc hội. Nhiều nghệ sĩ tự do tham gia các chương trình nghệ thuật lớn nhà nước, các họa sĩ cũng chủ động tổ chức triển lãm, tham gia các sự kiện mỹ thuật quốc tế. Nhờ việc họ đóng góp vào dòng chảy nghệ thuật Việt Nam, khi đạt thành tựu, thế giới cũng biết đó là nghệ sĩ, nghệ thuật từ Việt Nam. Ở nước ngoài, như ở Hàn Quốc, với chương trình do tư nhân tổ chức thực hiện, chính phủ thấy có uy tín, có chất lượng, có sự lan tỏa thì sẵn sàng đầu tư.

 Tuy nhiên việc xây dựng cơ chế đặc thù trong phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và phát huy tài năng văn hoá, nghệ thuật… cũng đang có nhiều vấn đề cần giải quyết…

Tư duy và nhận thức của lãnh đạo các bộ ngành là điều quan trọng. Nếu không có chính sách đặc thù mà áp dụng chung chung thì khó phát huy tài năng cá nhân nghệ sĩ. Như việc giảng dạy trong nhà trường thì cần bằng cấp như thạc sĩ, tiến sĩ... nhưng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có giáo dục nghệ thuật truyền thống, các nghệ nhân rất giỏi, tài năng lại không có học hàm học vị. Giáo viên đào tạo rối nước thì rất khó để có bằng thạc sĩ hay tiến sĩ, nhưng vẫn phải duy trì việc giảng dạy. Nghệ sĩ dạy đàn nhị học có khi học từ ông bà cha mẹ, là nghệ nhân dân gian chứ không phải học trong trường lớp…

Về cơ chế đặt hàng sáng tạo và phổ biến các công trình, tác phẩm văn hoá, văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hoá Việt Nam trong kỷ nguyên mới, thực tế hiện nay, theo ông đang diễn ra thế nào?

Việc đặt hàng sáng tạo của chúng ta như hiện nay chưa đến nơi. Phổ biến vẫn là mở trại sáng tác. Tập hợp văn nghệ sĩ tham dự, chủ yếu nặng về giao lưu. Các tác phẩm xuất hiện qua trại, thì số lượng rất nhiều, nhưng ra được thị trường, đến với người dân và có sức lan tỏa thì rất ít. Chúng ta phải mạnh dạn đặt hàng theo tác giả. Lựa chọn những người có nhiều thành công, uy tín để đặt họ sáng tác. Tuy nhiên, hiện nay chính sách vẫn xa vời với thực tiễn, nên dẫn tới ách tắc. Việc thực hiện được đúng chuẩn theo các quy chế tài chính mà nhà nước đã ban hành mà vẫn đầu tư cho văn hóa hiệu quả thiết thực sẽ rất khó khăn. Ví dụ như giao cho một đơn vị nghệ thuật nhà nước tổ chức một chương trình biểu diễn, liệu có bán vé được không, trong khi đó phía doanh nghiệp tư nhân tổ chức thì có thể bán vé với giá cao. Phía tư nhân, họ không bị ràng buộc các thủ tục về tài chính nên chủ động làm được nhiều điều. Vì thế, các cơ chế về tài chính với lĩnh vực văn hóa còn chưa theo được thực tiễn. Khi thực hiện các chương trình, dự án… để có được các quyết định nhanh gọn như phía tư nhân thì chúng ta phải có chính sách rất cụ thể phù hợp với thực tế.

Hiện nay, từ bức tranh toàn cảnh, có thể thấy công nghiệp văn hoá thực sự đang là ngành thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế trong quá trình toàn cầu hoá.

Đúng là như vậy. Công nghiệp văn hóa đang cần được đầu tư, phát triển. Trong bối cảnh hội nhập, Việt Nam có nhiều thế mạnh. Một đất nước có 54 dân tộc với nền văn hóa đa dạng. Nhiều tiếng nói, nhiều chữ viết, không gian văn hóa phong phú. Nhờ thế những người làm văn hóa có nhiều chất liệu để sáng tạo ra tác phẩm. Du lịch cũng hấp dẫn không chỉ khách nước ngoài mà cả người dân trong nước. Nhờ thế, nhiều ngành nghề khác như sản xuất, dịch vụ, cũng tăng trưởng theo. Lan tỏa văn hóa sẽ đóng góp rất lớn trong quá trình phát triển kinh tế đất nước.

Đất nước ta, địa phương nào cũng trở thành bối cảnh, trường quay đẹp. Nếu địa phương phát triển được phim trường, nhờ bộ phim hay, nổi tiếng, hấp dẫn, đi vào lòng người thì thu hút du lịch hơn. Như cảnh quay “King kong 2” ở Ninh Bình được giữ lại thành địa điểm du lịch. Nhờ thế, văn hóa nghệ thuật du lịch mở cửa, tạo công ăn việc làm cho người dân. Tuy nhiên, chúng ta phải có sự phối hợp đồng bộ từ Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, đến Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, đến các địa phương, tạo cơ chế mở hấp dẫn cho nhà đầu tư uy tín trong nước và quốc tế. Các nghị quyết đã có thì cần chính sách đi kèm để hiện thực hóa và có chính sách phù hợp với công nghiệp văn hóa. Chính sách cần hỗ trợ phát triển, kiến tạo công nghiệp văn hóa.

Ở nước ngoài, một dự án như Giải thưởng Tinh Hoa Việt, nhà nước sẽ rót vốn ngay nếu thấy phù hợp, có lợi ích cho phát triển văn hóa đất nước. Nhưng ở nước mình, để tiền công đầu tư vào khu vực tư là cả vấn đề về cơ chế, tài chính. Vì thế, việc nhận thức luôn mang yếu tố quyết định.

Từ Đại hội XIII của Đảng đã nêu nhiệm vụ: “Khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị, tinh hoa và thành tựu mới của văn hóa, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới”… Là Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam, ông có thể chia sẻ những vấn đề còn vướng mắc?

Chính sách là do các cơ quan nhà nước xây dựng, các hội phối hợp thực hiện. Hội thông thường là nơi kết nối giao lưu tập hợp các nghệ sĩ, xây dựng các dự án, ý tưởng. Tuy nhiên với nhà nước, thì khi đầu tư vẫn nhằm vào các đơn vị thuộc nhà nước với rất nhiều thủ tục. Mỗi khi tổ chức một sự kiện gì, chúng tôi phải chờ các ý kiến của nhiều cơ quan ban ngành, vì thế, thời gian để có thể tiến hành sự kiện đó kéo dài rất lâu, nhiều khi bị hoãn.

Khi triển khai nhiều sự kiện trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa như hiện nay, chúng tôi đã có dự án các hoạt động từ trước rồi. Muốn sáng lập triển khai một dự án mới thì chúng tôi phải xin phép, xin ý kiến với nhiều thủ tục. Vì vậy dù có sẵn tiềm năng, tiềm lực, kinh tế, văn nghệ sĩ sáng tạo giỏi nhưng do vướng cơ chế, chính sách, thủ tục, vẫn khó khăn trong việc triển khai. Cần áp dụng cơ chế mới, đừng lặp lại cơ chế cũ. Như thế, cần phải có quyết sách mạnh mẽ, tạo ra được bước ngoặt.

Công nghiệp văn hóa chính là các sản phẩm văn hóa đặc biệt. Vì thế phương pháp đầu tư cũng phải đặc biệt, nhận thức đặc biệt. Công nghiệp văn hóa trong thời đại hội nhập phải có chính sách đặc biệt, mới có tác phẩm đặc biệt.

Xin cảm ơn những chia sẻ của ông!

Nguyễn Quỳnh Trang (thực hiện)