Phụ nữ và bình đẳng giới
Chỉ tính riêng kết quả điều tra lao động và việc làm năm 2012 cho thấy, có đến trên 48% việc làm mới do lao động nữ đảm nhiệm. Còn, bình đẳng giới trong vai trò lãnh đạo và quản lý, Báo cáo kinh nghiệm thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ của Việt Nam (MDGs) cho thấy, ngày nay, phụ nữ có cơ hội ngày càng lớn hơn trong phát triển sự nghiệp và khẳng định vị thế ngày càng cao trong xã hội.

Ảnh T.L.
Phụ nữ ngày càng chiếm vai trò quan trọng ở các vị trí quản lý và lãnh đạo trong các tổ chức kinh doanh và tổ chức chính trị - xã hội. Cập nhật mới đây nhất trong báo cáo từ Chính phủ đã ghi nhận: 46,6% các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nữ cán bộ đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo chủ chốt. Tỷ lệ phụ nữ làm chủ doanh nghiệp tăng từ 20,8% năm 2009 lên 24,7% năm 2011.
Đại diện nữ giới trong Quốc hội tăng đáng kể trong 2 thập kỷ vừa qua. Trong đó, tỷ lệ nữ giới là đại biểu Quốc hội giữ ở mức tương đối cao (xấp xỉ mức 25%) trong 4 kỳ gần đây và Việt Nam được coi là một trong 5 nước đang phát triển ở Châu Á có đại diện nữ giới trong Quốc hội cao nhất. Điều đó cho thấy, vị trí và vai trò của phụ nữ trong xã hội Việt Nam đã được khẳng định không phải chỉ từ lời nói mà còn bằng việc làm.
Để có được những sự cải thiện đáng kể về bình đẳng giới và tỷ lệ phụ nữ tham chính tăng theo từng năm đó là cả một sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước; từ việc thay đổi quan niệm về vai trò của phụ nữ đến nhất quán thực hiện chính sách bình đẳng giới. Nhận thức sâu sắc và cam kết cao, cộng với chính sách xuyên suốt của các nhà lãnh đạo Việt Nam chính là “chìa khóa” quan trọng để chúng ta tăng cường bình đẳng giới.
Thậm chí, với Việt Nam, bình đẳng giới được xem là tiêu chí quan trọng đánh giá sự phát triển của xã hội: vừa là mục tiêu của sự phát triển, vừa là yếu tố nâng cao khả năng tham gia đóng góp của phụ nữ.
Điều này được thể hiện rõ cả trong Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946), trong các Hiến pháp 1959, 1980 và 1992; Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2001 của Việt Nam cũng như trong Hiến pháp 2013. Trong đó, bình đẳng nam và nữ luôn là một nguyên tắc hiến định mang tính xuyên suốt.
Còn nhớ, ngay từ những ngày đầu lập nước, bản Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam đã khẳng định “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều 1).“Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9). Cũng trong Hiến pháp này lần đầu tiên phụ nữ Việt Nam được quyền bình đẳng trong phổ thông đầu phiếu. Và, không ai khác, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng và là người cỗ vũ nhiệt thành, tích cực cho bình đẳng giới ở Việt Nam. Trong cuộc tuyển cử phổ thông đầu phiếu ngày 6/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Phụ nữ là tầng lớp đi bỏ phiếu hăng hái nhất”. Tại Đại hội liên hoan phụ nữ “Năm Tốt” vào ngày 30/4/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố:“Ngay từ lúc đầu, Đảng và Nhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình quyền, bình đẳng với đàn ông”.
Trong bản Di chúc viết tháng 5 năm 1968, Người đã căn dặn: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ ta đảm đang đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Ðảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Ðó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”.
Thực hiện Hiến pháp và những lời di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chính sách về vấn đề này. Gần đây nhất, Nghị quyết 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” lại một lần nữa khẳng định quan điểm nhất quán về sự cần thiết phải nâng cao vị thế của phụ nữ.
Nghị quyết này đã nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường trao quyền cho phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phải nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân về vai trò, vị thế của người phụ nữ, về công tác bình đẳng giới.
Cụ thể, người phụ nữ phải được đảm bảo cơ hội, điều kiện và môi trường thuận lợi hơn để phấn đấu cho công việc chung và hoàn thiện nhân cách; các hành vi bạo lực gia đình, xâm hại nhân phẩm của phụ nữ, tư tưởng trọng nam khinh nữ phải bị xóa bỏ. Hệ thống pháp luật liên quan đến quyền bình đẳng giới của phụ nữ cũng được hoàn thiện hơn.
Quan trọng là, việc đưa quy trình lồng ghép giới trở thành một thủ tục pháp lý bắt buộc khi xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật đã “là một bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy bình đẳng giới thực chất và toàn diện hơn ở Việt Nam” như phát biểu của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan tại tọa đàm “CEDAW và luật pháp về bình đẳng giới ở Việt Nam” (ngày 24/11/2009, tọa đàm do UB về các vấn đề xã hội của Quốc hội và UNDP tổ chức tại Hà Nội).
Cùng với việc tạo điều kiện của Đảng, Nhà nước, bản thân phụ nữ cũng cần nỗ lực phấn đấu, nỗ lực vươn lên để hoàn thiện mình để vượt ra khỏi những suy nghĩ thiếu tích cực còn rơi rớt đâu đó về vai trò phụ nữ trong xã hội. Quá trình ấy cũng cần sự sẻ chia của các cấp Hội.