Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Quê

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Mấy năm rồi mới trở về quê nội. Đi qua chiếc cầu Ca Cút, chiêm ngắm phá Tam Giang mênh mang sông nước, sải chân không trên cát trắng, chạy ào ra biển mơ mộng với tiếng sóng bạc đầu mà tôi ngỡ sắc màu trên tóc nội vừa tròn một trăm sắp có lẻ. Chân nội cũng đã yếu, tóc cũng đã thưa, mắt cũng đã mờ, tai cũng đã lãng, chỉ còn chút ít sự tinh anh vừa đủ để nội nhận biết con cháu sum vầy mỗi lần có dịp về quê hội tụ qua nụ cười hớn hở, đỏ khóe môi trầu.

Quê

Dăm ba ngày ở quê, quá ít ỏi với tôi, với nội. Nhưng, một vài câu chuyện, cùng nhiều hình ảnh cũ xưa bên hàng rào thưa lọt gió vẫn ùa về. Cách một đường luồng đất cát, tôi thấy căn nhà lão Câm vẫn không thay đổi nhiều lắm, ngoài cái máy bơm nước bằng tay quen thuộc ở xứ biển đã được thay bằng đường ống nước máy dẫn về tận làng. Và sự vắng lặng im ắng của những tiếng la hét đám trẻ con lúc nắng trưa gắt gỏng vào độ sắp hè. Ông Câm cũng không còn nữa. Dĩ nhiên, đời một con người bao giờ sinh - tử cũng vô thường. Năm tôi mười ba, mười bốn tuổi, cho đến mười tám, hai mươi, và hăm mấy nữa đó, tôi nhớ ông Câm hẵng còn đi qua đi lại với chiếc quần cộc áo rách quanh xóm quanh làng, gom mớ củi, mớ lá dương quanh độn cát, thi thoảng ngậm điếu thuốc lá chăm chú ngồi vót một đoạn tre, thi thoảng đưa mắt nhìn ngó, quan sát xung quanh. Có khi, tôi thấy ông lặng lẽ suy tư nhìn về phía biển. Hẳn là, một thời trẻ tuổi của ông ở ngoài đó. Phía có những tiếng sóng. Phía có những mùa cá vọng vỗ vào mạn thuyền gỗ cũ kỹ.

Mùa này, tháng ba, nắng cháy - khét da. Tôi liếc nhìn qua hàng rào của nội, có giàn lá nhỏ như lá me xanh xâu kim ánh sáng lọt vào mắt tôi. Nhà ông Câm không có tiếng người. Nhà tôi thì rộn ràng đông đúc tiếng trẻ con chơi đùa, tiếng người gần người xa, giọng Quảng, giọng Huế, giọng Nam kể cả giọng Bắc. Cháu chắt dâu rể, xum vầy, tiếng nói cười xen lẫn nhau rúc ra rúc rích. Trong năm dăm ba bận, vào dịp xuân - hè, mới có dịp được quây quần lại, cho nội nheo mắt nhìn mà mỉm cười mấy độ hoa mai vàng nở rộ nữa cũng phúc phận lắm rồi.

Tôi là đứa thích tò mò, thích giữ gìn lưu dấu, ghi nhớ lại từng vệt hình ảnh của thời gian ở bất cứ nơi nào. Tôi giữ cho quê, cho nội, cho đám nhóc con từng thế hệ thứ ký ức màu mây khói lãng đãng nhưng trầm lắng, đằm đã yêu thương như những đợt sóng ngầm, nuôi dưỡng tuổi thơ. Mỗi lần về quê nội, bao giờ tôi cũng để dành dăm ba khoảnh khắc riêng tư để quan sát những đổi thay từ khóm cây bụi cỏ vườn trước, vườn sau xung quanh nhà.

Cây phượng già trước sân, mấy năm trước, khi tôi chưa rời khỏi xứ Huế đi phiêu bạt về phía bên kia đại dương, vẫn còn xanh um lá, dịp này đã nở vài chùm hoa đỏ rồi. Giờ về lại, thấy cây khô quắt, gốc trơ ra một cái lỗ sâu hoắm. Tôi cứ mường tượng như đó là một thế giới khác vừa mới mở ra trong lòng đất từ chính gốc cây ấy. Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Sự thật vốn dĩ chẳng bao giờ biến thể, hoặc đổi thay hình dạng. Cây đang dần dần chết. Tôi săm soi nhìn vào cái gốc cây rỗng và loáng thoáng nghe O tôi nói tiếng to tiếng nhỏ phía sau lưng ba, “cậu cứ kê gạch ở đó mà nấu bánh”. Mấy năm rồi nhà tôi vẫn giữ nếp gói bánh mỗi lần giỗ kỵ ông nội sau tết âm lịch. Tôi sợ lửa sẽ bén vào gốc cây, cây sẽ đổ. Nhưng O thì không nhìn thấy suy tư đó của tôi. Hẳn là O có lý do khác, hẳn là O nghĩ, cây phượng đó đã chết, tôi đoán vậy. Nhà không có đàn ông. Nội có ba O con gái, hai O mất chồng sớm giống nội vậy. Còn mỗi O đầu, trọn vẹn hơn chút, vì có dượng, nhưng cũng đã xấp xỉ tám mươi tuổi. Nhà lại toàn người già. Ba tôi ở xa. Cây lỡ có đổ nghiêng xuống khi gốc bị sâu ăn mòn, cũng không có người gánh vác.

Ba tôi đã kê xong mấy viên gạch tự lúc nào, củi lửa cũng đã sẵn sàng. Chỉ còn chờ nồi bánh được bắc lên. Chỉ còn chờ khói. Những lọn khói tỏa lan từ dưới gốc cây, thả vào thinh không mùa thương mùa nhớ.

Ngoảnh mặt sang hàng rào, tôi lại thấy được an ủi, khi ngắm mắt nắng nghiêng nghiêng trong từng lớp lá và bắt gặp những hạt đỏ đỏ lấp lánh chêm xen, tôi thích thú tiến lại gần hái lượm, nhặt nhạnh, cho vào một chiếc hộp. Cô em gái đứng trong nhà nhìn ra thấy tôi loay hoay cũng tò mò, nhặt hạt, rồi xếp chúng thành hình trái tim trên nền sân xi măng lẫn với cát. Vườn của nội vậy mà thơ quá chừng. O tôi nói đó là hạt cây cam thảo. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy hạt và những bông hoa màu tím nhạt của cây cam thảo. Chúng có một vẻ đẹp khá nhẹ nhàng, rất dịu dàng, như Huế.

Cây cam thảo được trồng bọc quanh hàng rào trước, hàng rào sau căn nhà nhỏ của nội. Quê, đôi khi cũng chỉ cần bấy nhiêu chi tiết đó thôi để thương đong đầy, để ầng ậng giọt nước mắt nhớ. Vậy chớ, đã hết đâu, còn có mấy cây ớt nhỏ xinh, mấy bông hoa dại mọc leo lét trên đất, cùng với vài dây muống biển phơn phớt gió, tím loang, len lỏi lượn theo doi cát trắng. Vườn của nội, cây của nội. Trước kia về quê, tôi còn thấy nội thoăn thoắt đôi tay vun vén từng ô, từng khóm cây, giờ nội chân yếu mắt mờ, may còn có O tôi ở gần thay nội tưới tắm mùa nắng nên cây dù chỉ là ngọn cỏ bé nhỏ cũng mọc lên từ những vết nứt trên sân.

Tôi nhớ quê, thương quê hoặc trầm tư với quê không phải chỉ chừng đó. Bởi, đôi khi, tôi nhận ra, quê càng ngày càng lặng lẽ hơn thuở trước. Người ở quê hình như cũng vắng dần thì phải. Không hẳn, tất cả họ đều bỏ quê rời đi đâu đó, dăm ba năm lại về, mà bởi sự tồn sinh của mọi giống loài chưa bao giờ là bất tử. Chẳng hạn như ông chú họ, làm nghề đi biển, tên Trí mà tôi nhớ, có nước da ngăm đen vì nắng gió hơi mặn, hiền lành hài hước, tôi quý mến, mấy năm trước mỗi lần nghe tôi về, đã chân đất mình trần lặn lội mang đồ biển tươi rói lên nhà nội, vừa cười với tôi vừa chìa ra rổ cá óng ánh vảy dưới nắng. Đi hai năm, mới về lại quê nội, hỏi chú đâu, ba nói chú mất vì ung thư da năm trước. Lòng chùng chình nghèn nghẹn, dù biết sinh - lão - bệnh - tử là chuyện thường tình.

Quê trầm mặc hẳn đi, khi người còn kẻ mất. Thỉnh thoảng để ý quan sát nội nhìn ngó xa xăm ra cửa, ra vườn, tôi lại ngơ ngác thấy khó rời chân nhấc bước. Quê là để thương, để nhớ, để quay trở về, dù chỉ chân đất trần trụi đi trên cát, bêu đầu giữa nắng, ra biển nghe sóng, gom lá dương để thổi lửa nấu cơm. Mỗi mùi khói thôi cũng làm tôi vấn vương hoài mãi không nguôi được. Hoặc cũng bởi ở quê có nội, ở quê có những người đàn bà lam lũ gồng gánh một đời vì con cháu. Ở quê có những khoảnh khắc mà tôi phải lưu lại thành một thước phim ký ức ấm áp.

Giờ thì tôi nhớ biển. Nhìn qua những ngọn đồi tháng tư, khô cây héo lá. Tôi lại nhớ biển da diết. Nhớ tiếng sóng đêm quen thuộc của quê vỗ về giấc mơ không bao giờ có hồi kết từ thuở thiếu thời cho đến tận bây giờ. Nhớ đôi mắt già nua, đôi môi đỏ khóe vôi trầu của nội. Nhớ tiếng chim buổi sớm, rúc rích trên những ngọn tre đầu làng, nép hai bên con đường bê tông ngoằn ngoèo nối thôn nối xóm. Lòng bận bịu vướng mắc, không biết gốc cây phượng già, bị sâu đục khoét, có còn đủ sức để hồi sinh trên đất cát nữa chăng?

Tôi giữ cho quê, cho nội, cho đám nhóc con từng thế hệ thứ ký ức màu mây khói lãng đãng nhưng trầm lắng, đằm đã yêu thương như những đợt sóng ngầm, nuôi dưỡng tuổi thơ. Mỗi lần về quê nội, bao giờ tôi cũng để dành dăm ba khoảnh khắc riêng tư để quan sát những đổi thay từ khóm cây bụi cỏ vườn trước, vườn sau xung quanh nhà.

Trần Băng Khuê