Sửa Luật Bảo vệ môi trường: Cắt giảm thủ tục phải đi đôi với kiểm soát chặt rủi ro
Sáng 24/10, Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
Cắt giảm thủ tục, đẩy mạnh số hóa quản lý môi trường
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, Dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung 79/171 điều của Luật Bảo vệ môi trường hiện hành.

Đáng chú ý, Dự thảo Luật cắt giảm đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường và đối tượng phải có giấy phép môi trường; đơn giản hóa hồ sơ, nội dung và trình tự thực hiện; chuyển một số đối tượng sang đăng ký môi trường. Thực hiện thẩm định đánh giá tác động môi trường, cấp và điều chỉnh giấy phép môi trường trên môi trường điện tử trực tuyến.
Dự thảo cũng quy định nguyên tắc phân định thẩm quyền thẩm định đánh giá tác động môi trường theo mức độ nguy cơ tác động xấu đến môi trường và tính chất đặc thù của dự án; tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương.
Về đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng chất thải, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, Dự thảo Luật bổ sung quy định nguyên tắc tổ chức phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình, cá nhân và giao Chính phủ quy định lộ trình thực hiện; quy định trách nhiệm cập nhật dữ liệu về phát sinh, thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý. Sửa đổi, bổ sung các quy định về quản lý chất thải nhằm thúc đẩy tái chế, tái sử dụng chất thải và quản lý vật liệu tái chế, thu hồi từ chất thải; giao Chính phủ quy định lộ trình tái chế trong sản phẩm, hàng hóa.

Báo cáo thẩm tra Dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết, Ủy ban tán thành với sự cần thiết sửa đổi dự án luật; hồ sơ đã được chuẩn bị đầy đủ, công phu, đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét.
Để hoàn thiện dự thảo, Ủy ban đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát để thể chế hóa đầy đủ nội dung của Kết luận số 75-KL/TW đối với nội dung về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) với mô hình kinh doanh xanh, tuần hoàn; yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường.
Ủy ban cũng đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo chịu trách nhiệm toàn bộ về tính khả thi, minh bạch đối với các chính sách mới được đề xuất trong luật; bảo đảm không tạo ra khoảng trống hoặc điểm nghẽn mới làm phát sinh tham nhũng, tiêu cực, cản trở, ách tắc khi triển khai.

Đánh giá thận trọng khi bỏ các yếu tố nhạy cảm về môi trường
Về phân loại dự án và đánh giá tác động môi trường, cơ quan thẩm tra tán thành chủ trương phân loại dự án theo mức độ rủi ro (thu gọn lại còn 3 nhóm) và mở rộng một số trường hợp không phải thực hiện đánh giá tác động môi trường ĐTM. Tuy nhiên, cắt giảm thủ tục phải đi cùng với phân loại rủi ro chính xác, định lượng các yếu tố nhạy cảm và hậu kiểm hiệu quả.
Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị đánh giá thận trọng khi bỏ các yếu tố nhạy cảm về môi trường như khu dân cư tập trung, nguồn nước cấp sinh hoạt và tiêu chí loại hình, quy mô của nguồn thải đối với sức khỏe cộng đồng; đồng thời đề nghị không đưa các dự án thứ cấp trong khu/cụm công nghiệp khi có nguồn thải lớn, chất thải độc hại hoặc nhập khẩu phế liệu vào diện miễn ĐTM, qua đó vừa giảm thủ tục cho dự án rủi ro thấp vừa kiểm soát chặt dự án rủi ro cao.
Đối với giấy phép môi trường và đăng ký môi trường, dự thảo đã sửa theo hướng đơn giản hóa và tăng cường sử dụng phương thức điện tử. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị chuyển từ tư duy cấp giấy phép xả thải sang cấp giấy phép vận hành môi trường. Giấy phép phải quy định rõ nghĩa vụ, điều kiện phát thải, vận hành công trình bảo vệ môi trường, quan trắc tự động và quản lý rủi ro.
Thực hiện 100% thủ tục trên môi trường điện tử và không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại dữ liệu đã được xác thực trên hệ thống quốc gia. Cách tiếp cận này sẽ giúp giảm chi phí tuân thủ, chuyển trọng tâm từ kiểm tra hồ sơ sang giảm thiểu rủi ro.
Về phân loại chất thải rắn sinh hoạt, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị bổ sung trách nhiệm riêng của từng đơn vị thu gom, vận chuyển và cơ sở xử lý. Cho phép địa phương trước mắt áp dụng mô hình phân loại thành 2 nhóm rác tái chế và rác khác phù hợp với hạ tầng hiện có, hướng tới mục tiêu giảm chôn lấp, tăng tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng.