Tái cấu trúc chuỗi giá trị, “nâng giá” hạt gạo Việt
Xuất khẩu gạo thời gian qua tăng về sản lượng nhưng giá lại giảm sâu, đẩy lợi nhuận của nông dân xuống thấp. Nghịch lý này không chỉ phản ánh biến động thị trường, mà còn cho thấy điểm nghẽn trong chuỗi giá trị lúa gạo, đòi hỏi phải tái cơ cấu và gia tăng giá trị mà ở đó vai trò của hợp tác xã kiểu mới và doanh nghiệp phải được đặt vào trung tâm.

Giá lúa tại nhiều địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long(ĐBSCL), đặc biệt là Đồng Tháp và Vĩnh Long, đang giảm sâu, khiến nông dân không khỏi lo lắng khi bước vào giai đoạn cuối vụ Đông Xuân 2026. Theo các chuyên gia, vai trò của hợp tác xã kiểu mới và doanh nghiệp phải được đặt vào trung tâm, tạo liên kết chặt chẽ từ sản xuất đến tiêu thụ để sản xuất lúa gạo giảm bớt những rủi ro theo điệp khúc “được mùa – rớt giá”.
“Gánh nặng kép” vẫn đè lên người trồng lúa
Tính đến cuối tháng 3/2026, sản xuất lúa tại các địa phương trọng điểm vùng ĐBSCL tiếp tục duy trì quy mô lớn, với diện tích gieo cấy ổn định: An Giang đạt 503 nghìn ha; Cần Thơ 312 nghìn ha; Tây Ninh 278 nghìn ha.
Trong khi đó, giá lúa có dấu hiệu tăng nhẹ ở một số phân khúc, nhưng nhìn chung bức tranh tổng thể vẫn còn khó khăn khi áp lực chi phí và biến động thị trường chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.
Vụ đông xuân chính vụ năm 2025 – 2026 trên địa bàn tỉnh Cà Mau sắp bước vào vụ thu hoạch với diện tích hơn 60 ngàn ha, ước tính sản lượng khoảng 400 ngàn tấn. Tuy nhiên, giá lúa hiện nay rất thấp khiến nông dân sản xuất rơi vào khó khăn. Nhất là chi phí vụ đông xuân đột ngột tăng vì vật tư tăng giá trong nhiều ngày qua.
Hiện nay, giá lúa OM và Đài thơm 8 chỉ dao động khoảng 5500 - 5600 đồng/kg, giá lúa ST 24, 25 thường chỉ khoảng 6800 đồng. Với giá lúa này nông dân khó có lợi nhuận vì chi phí vụ đông xuân hiện nay rất cao. Ảnh hưởng giá xăng dầu các dịch vụ nông nghiệp như: bơm tát, máy cắt đã tăng giá so với vụ thu đông; cùng đó là phân bón, thuốc BVTV cũng tăng nhanh chóng theo giá xăng dầu.
Ông Lữ Văn Hiệp ở ấp Trà Khứa, xã Hòa Bình, tỉnh Cà Mau chia sẻ: Nói chung là vụ này, giá thành vật tư là cái nào cũng tăng hết, chỉ có lúa là bị sụt giảm. Vụ này lại gặp khó ở đầu ra, giá lúa sụt giảm nên ít thương lái tới mua.
Theo người dân cho biết, tuy gặp một số khó khăn về đầu vụ như: bệnh đạo ôn, cháy bìa lá, đạo ôn cổ bông, lem lép hạt, rầy phấn trắng xuất hiện gây hại trên trà lúa nhưng do nông dân chủ động phòng trừ kịp thời và áp dụng tốt những kinh nghiệm, kỹ thuật trong sản xuất nên năng suất lúa không bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, thuận lợi về nguồn nước ngọt luôn đảm bảo trong suốt vụ lúa phát triển rất tốt, dự kiến sản lượng có thể đạt khoảng 7 – 7,5 tấn/ha. Tuy nhiên, giá lúa rẻ nhưng chi phí sản xuất lại quá cao thì vụ đông xuân này coi như là tiếp tục thất bại.
Ông Trần Văn Phúc ở ấp Trà Khứa, xã Hòa Bình, tỉnh Cà Mau cho biết thêm, giá phân bón, đạm, thuốc trừ sâu đều tăng. “Chi phí tăng thêm, rồi giá xăng dầu tăng nữa. Mặc dù vụ này năng suất lúa có tăng nhưng chi phí sản xuất cũng tăng phi mã thì vụ này không có lời” - ông Phúc than thở.
Tại Đồng Tháp, thương lái hiện chỉ thu mua lúa Đông Xuân ở mức 5.000 - 5.500 đồng/kg, giảm khoảng 1.000 đồng/kg so với tuần trước. Ông Lê Văn Tâm, nông dân ngụ xã Tràm Chim, cho biết vụ này lúa đạt năng suất khoảng 9 tấn/ha, nhưng giá xuống thấp khiến lợi nhuận gần như không còn. Với những thửa ruộng xa đường giao thông, chi phí vận chuyển tăng, thương lái càng dè dặt thu mua, có nơi nông dân chấp nhận bán 5.200 đồng/kg vẫn khó tìm đầu ra. Trong bối cảnh giá xăng dầu, vật tư nông nghiệp, nhân công và dịch vụ cơ giới cùng tăng, nhiều hộ thuê đất sản xuất đang chịu lỗ nặng.
Tại Vĩnh Long, tình hình cũng không khả quan hơn. Ông Nguyễn Văn Còn ở xã Tân Lược, nông dân có hơn 40 năm gắn bó với ruộng đồng, cho biết từ 3 công đất ban đầu, gia đình đã tích góp mở rộng lên hơn 10 công để nuôi 5 người con ăn học. Tuy nhiên, vụ đông xuân năm nay hiệu quả giảm rõ rệt. Với năng suất hơn 1 tấn/công, lúa OM18 hiện chỉ bán được 5.500 - 5.600 đồng/kg, giảm từ mức 5.800 đồng/kg vào thời điểm mới thu hoạch và thấp hơn nhiều so với mức 6.300 - 6.500 đồng/kg trước Tết. Sau khi trừ chi phí, mỗi công lúa chỉ còn lãi rất thấp, bình quân khoảng 3 triệu đồng mỗi vụ.
Điều đáng lo là giá bán giảm nhưng chi phí đầu vào tiếp tục leo thang. Phân bón tăng khoảng 100.000 đồng/bao, tiền cắt lúa tăng thêm 50.000 - 70.000 đồng/công, nhân công dặm lúa đã tăng lên khoảng 250.000 đồng/ngày. Chưa kể nhiều hộ mua vật tư trả chậm đến cuối vụ phải chịu thêm mức “kê giá” khoảng 3%. Theo nông dân, doanh thu bình quân mỗi công lúa hiện khoảng 6 triệu đồng nhưng chi phí đã chiếm gần một nửa, chưa tính khoảng thời gian 5 tháng không có nguồn thu khi phải tạm ngưng sản xuất để tránh xâm nhập mặn.
Tuy nhiên vẫn có tín hiệu tích cực khi lúa chất lượng cao (khu vực Tiền Giang cũ), giá thu mua lúa cuối tháng 3/2026 có xu hướng tăng nhẹ so với tháng trước. Cụ thể, lúa IR 50404 (khô) đạt 7.262 đồng/kg, tăng 19 đồng/kg; lúa OM 5451 đạt 7.648 đồng/kg, tăng 105 đồng/kg; lúa Nàng Hoa lên 8.945 đồng/kg, tăng 452 đồng/kg; lúa Đài Thơm đạt 9.974 đồng/kg, tăng 381 đồng/kg.
Thực tế cho thấy, dù giá có nhích lên nhưng lợi nhuận của nông dân vẫn thấp vì chi phí đầu vào tăng cao. Tại An Giang, chi phí sản xuất đã lên tới 3–3,5 triệu đồng/công(1.000m2), trong đó riêng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật chiếm 50–60%. Trong khi đó cơ giới hóa vẫn chưa đồng bộ, người dân phải thuê mướn nhiều nên lợi nhuận không cao.

Cần thiết lập cơ chế chia sẻ rủi ro trong chuỗi giá trị
Không chỉ khó khăn nội tại, ngành lúa gạo của Việt Nam còn đối mặt với những tác động mạnh từ bên ngoài. Mới đây tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu gạo năm 2026 tổ chức ở Cần Thơ, nhiều ý kiến cảnh báo từ thị trường quốc tế khi các quốc gia nhập khẩu lớn như Indonesia, Philippines đang điều chỉnh chính sách.
Ông Trần Quốc Tuấn - Giám đốc Sở Công thương Vĩnh Long nhận định ngành lúa gạo đang gặp “gió ngược” khi một số thị trường lớn như Indonesia, Philippines điều chỉnh nhập khẩu, trong khi chi phí logistics tăng khoảng 30% và vật tư nông nghiệp tăng 15 - 20%, gây áp lực lớn lên toàn chuỗi sản xuất - tiêu thụ.
Nhìn về phía trước, bài toán của ngành lúa gạo ĐBSCL không còn là sản lượng, mà là giá trị và tính bền vững. Các chuyên gia thống nhất rằng, nếu không có giải pháp mang tính cấu trúc, những vòng lặp “được mùa - mất giá” sẽ tiếp tục tái diễn.
Trong khi đó mô hình thâm canh 3 vụ/năm đang dần bộc lộ nhiều giới hạn, ngành chức năng cần phải tính toán. Ngoài ra áp lực lên đất, nguồn nước và hệ sinh thái ngày càng lớn; phù sa bị suy giảm do hệ thống đê bao khép kín. Biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và biến động nguồn nước từ thượng nguồn càng làm gia tăng rủi ro.
TS Trần Hữu Hiệp - chuyên gia kinh tế vùng ĐBSCL cho rằng, trước hết, cần tổ chức lại sản xuất theo hướng hợp tác và quy mô lớn. Nông dân không thể tiếp tục sản xuất manh mún, phụ thuộc thương lái. Vai trò của hợp tác xã kiểu mới và doanh nghiệp phải được đặt vào trung tâm, tạo liên kết chặt chẽ từ sản xuất đến tiêu thụ. Khi có hợp đồng bao tiêu rõ ràng, nông dân mới giảm được rủi ro thị trường.
Phải chuyển mạnh sang chế biến sâu và xây dựng thương hiệu. Việt Nam xuất khẩu 7 đến 8 triệu tấn gạo mỗi năm, nhưng phần lớn vẫn là gạo nguyên liệu. Nếu không nâng cấp khâu chế biến và định vị thương hiệu quốc gia, giá trị hạt gạo sẽ tiếp tục bị “định giá thấp” trên thị trường quốc tế.
Cần thiết lập cơ chế chia sẻ rủi ro trong chuỗi giá trị. Không thể để toàn bộ biến động giá và chi phí dồn lên vai nông dân. Chính sách tín dụng, bảo hiểm nông nghiệp và quỹ bình ổn cần được thiết kế lại theo hướng thực chất hơn.
Cuối cùng, chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng “thuận thiên” là yêu cầu cấp bách. Giảm phụ thuộc hóa chất, thích ứng với biến đổi khí hậu, đa dạng hóa sinh kế thay vì chỉ bám vào cây lúa sẽ giúp nông dân nâng cao khả năng chống chịu. Đây không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà là chiến lược phát triển dài hạn cho toàn vùng.
Cần có chiến lược dài hạn, muốn hạt gạo đi đường dài, ĐBSCL không thể chỉ nhìn vào giá lúa từng vụ. Cần phải tính toán hợp lý, hài hòa cả hệ sinh thái kinh tế nông nghiệp, từ đất đai, nước, thị trường đến tổ chức sản xuất. Khi những “nút thắt” này được tháo gỡ đồng bộ, giá lúa mới thực sự phản ánh đúng giá trị và người nông dân mới có thể sống được, sống tốt từ chính ruộng đồng của mình.