Tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế: Ngưỡng 1 triệu đồng cao hay thấp?
Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, theo đó bổ sung ngưỡng nợ thuế từ 1 triệu đồng trở lên để áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, người đại diện theo pháp luật, chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký. Có rất nhiều tranh luận xung quanh đề xuất này.
Theo phân tích của cục Thuế, các trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh theo quy định tại Nghị định 49/2025/NĐ-CP gồm: về cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh nợ thuế lớn và kéo dài, việc tạm hoãn áp dụng với trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế; Có số tiền thuế nợ từ 50 triệu đồng trở lên; Khoản nợ đã quá thời hạn nộp từ 120 ngày trở lên (nội dung này tiếp tục được kế thừa tại dự thảo Nghị định).
Với chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp; Người đại diện pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nợ thuế lớn và kéo dài, thuộc trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế; Có số tiền thuế nợ từ 500 triệu đồng trở lên; Nợ quá hạn từ 120 ngày trở lên.
Riêng với mức 1 triệu đồng, dự thảo quy định cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh; chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp; người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sẽ thuộc trường hợp áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh khi vi phạm 3 điều kiện gồm: Không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký; Có số tiền thuế nợ từ 1 triệu đồng trở lên; Sau 30 ngày kể từ ngày cơ quan thuế thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh mà vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế.
Theo Cục Thuế, đây là quy định thu hẹp phạm vi áp dụng so với hiện hành, không phải siết chặt hơn, vì theo Nghị định 49/2025/NĐ-CP đang có hiệu lực, đối với trường hợp người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, pháp luật không quy định ngưỡng nợ tối thiểu để áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh. Theo đó, chỉ cần phát sinh khoản nợ thuế quá hạn, dù rất nhỏ, người nộp thuế vẫn có thể thuộc diện xem xét áp dụng biện pháp này nếu đã được cơ quan thuế thông báo và quá 30 ngày chưa khắc phục.
Dự thảo Nghị định mới lần này đã bổ sung ngưỡng nợ từ 1 triệu đồng trở lên, tức là loại trừ khỏi diện áp dụng một số lượng rất lớn người nộp thuế có số nợ nhỏ, mang tính kỹ thuật hoặc phát sinh do sai sót hành chính chưa kịp xử lý.
Trong khi đó theo số liệu tổng hợp, có hơn 50% người nộp thuế ở trạng thái không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký có số tiền thuế nợ dưới 1 triệu đồng, số tiền thuế nợ chiếm khoảng 0,2% tổng số nợ thuế.
Con số này phản ánh rất rõ một thực tế: hơn một nửa số đối tượng thuộc diện quản lý đặc biệt chỉ chiếm tỷ trọng nợ thuế rất nhỏ.
Nếu tiếp tục áp dụng cơ chế không có ngưỡng như hiện hành, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh có thể tác động đến số lượng lớn người nộp thuế vì các khoản nợ rất nhỏ, trong khi hiệu quả thu hồi ngân sách không tương xứng.
“Vì vậy, việc bổ sung ngưỡng 1 triệu đồng là giải pháp nhằm bảo đảm nguyên tắc tương xứng giữa tính chất vi phạm và biện pháp quản lý nhà nước áp dụng”, Cục Thuế khẳng định.
Ngoài ra Cục Thuế cũng chỉ ra nên hiểu đúng bản chất của trạng thái “không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký”
Một số ý kiến chỉ nhìn vào con số 1 triệu đồng để đánh giá mức ngưỡng thấp hay cao. Thực tế, trường hợp này không đơn thuần là nợ thuế. Người nộp thuế thuộc trạng thái “không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký” là trường hợp đã vi phạm nghĩa vụ duy trì thông tin đăng ký thuế chính xác, gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm tra và thu hồi nợ thuế. Đây là hành vi làm gián đoạn kết nối quản lý giữa cơ quan nhà nước với người nộp thuế.
Do đó, việc áp dụng biện pháp quản lý đối với nhóm đối tượng này không chỉ dựa trên số tiền nợ, mà còn xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa tình trạng bỏ địa chỉ kinh doanh để né tránh nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
Đứng ở góc độ chuyên gia, chuyên gia thuế Nguyễn Văn Được phân tích, dự thảo đưa ra quy định người nộp thuế vẫn còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký chỉ bị cưỡng chế khi nợ quá 120 ngày. Trong khi đó, nhóm không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký có thể bị áp dụng biện pháp chỉ sau 30 ngày kể từ khi thông báo. Như vậy vẫn đảm bảo nguyên tắc quản lý thuế theo mức độ rủi ro và quản lý thuế theo mức độ tuân thủ. Các trường hợp vẫn còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký được áp dụng thời gian xử lý dài hơn, trong khi nhóm bỏ địa chỉ kinh doanh bị áp dụng biện pháp sớm hơn, dù có thể cùng một ngưỡng tiền nợ thuế.
Vì vậy, ông Được cho rằng, nếu cùng đặt ngưỡng nợ thuế nhưng giữ nguyên sự khác biệt về thời gian này, vẫn bảo đảm được nguyên tắc quản lý theo mức độ rủi ro, kết hợp với nguyên tắc quản lý thuế theo tuân thủ, không làm mất đi tính phân hóa trong chính sách.
Do đó, ông kiến nghị nâng ngưỡng tạm hoãn xuất cảnh từ 1 triệu đồng lên 50 triệu đồng và giữ nguyên mốc thời gian áp dụng là 30 ngày đối với trường hợp không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký.
Song song, ông Được cũng cho rằng cần hoàn thiện hệ thống thông báo và cảnh báo sớm đối với người nộp thuế. Việc tận dụng đồng bộ các kênh điện tử như email, số điện thoại, ứng dụng eTax hay VNeID sẽ giúp bảo đảm người nộp thuế nhận được thông tin đầy đủ và kịp thời. Khi người dân có thể chủ động nắm được nghĩa vụ của mình, các tình huống bị động khi làm các thủ tục xuất cảnh sẽ giảm đáng kể.