Báo Đại Đoàn Kết Môi trường

Tăng cường quản lý các chất làm suy giảm tầng ô-dôn và gây hiệu ứng nhà kính

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Tăng cường quản lý các chất làm suy giảm tầng ô-dôn và gây hiệu ứng nhà kính

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Sáng 23/10, tại TP.HCM, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức hội thảo “Tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về kiểm soát các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, chất gây hiệu ứng nhà kính và Kế hoạch quốc gia quản lý, loại trừ các chất được kiểm soát”.

Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Ánh Tuyết.
Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Ánh Tuyết.

Theo kết quả kiểm kê các chất được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal do Ngân hàng Thế giới tài trợ, phối hợp với Cục Biến đổi khí hậu thực hiện, lượng môi chất lạnh tồn trữ trong các thiết bị đang vận hành tại Việt Nam (năm 2024) ước tính khoảng 49.000 tấn.

Trong 2 năm gần đây, lượng môi chất lạnh tồn trữ tiếp tục gia tăng ở mức đáng lo ngại. Nếu toàn bộ lượng này phát thải ra môi trường, mức tác động tương đương khoảng 85 triệu tấn CO₂.

Môi chất lạnh hiện nay được sử dụng phổ biến trong điều hòa không khí, thiết bị làm lạnh dân dụng, thương mại, công nghiệp và hệ thống lạnh trên phương tiện giao thông. Tuy nhiên, chất phát thải này lại có tác động khác nhau đến môi trường, trong đó nhiều chất có tiềm năng gây nóng lên toàn cầu cao. Một số môi chất lạnh thế hệ cũ, điển hình là CFC và HCFC, còn gây nguy cơ phá hủy tầng ô-dôn khi phát thải vào khí quyển.

Tại hội thảo, nhiều chuyên gia chỉ ra hệ thống máy lạnh, điều hòa không khí, thiết bị làm lạnh dân dụng, hoặc sử dụng trong công nghiệp đang ngày càng được sử dụng phổ biến, nhất là tập trung tại các đô thị lớn.

Theo kết quả kiểm kê, chỉ riêng điều hòa không khí dân dụng chiếm 51% tổng khối lượng môi chất lạnh tồn trữ trong các thiết bị trên cả nước và đóng góp 44% tổng lượng phát thải.

Trong khi đó, lạnh công nghiệp và điều hòa không khí ôtô đều chiếm khoảng 16% khối lượng môi chất. Tuy nhiên, riêng lĩnh vực lạnh công nghiệp chiếm tới 24% tổng lượng phát thải, tương đương khoảng 20 triệu tấn CO₂.

Nguyên nhân là lĩnh vực này vẫn sử dụng các môi chất có tiềm năng gây nóng lên toàn cầu cao như R-22 và R-404A. Theo các chuyên gia, đây cũng là nhóm có tiềm năng giảm phát thải lớn nhất thông qua thu gom, thu hồi môi chất, do thiết bị thường tập trung tại các cơ sở sản xuất, kho lạnh và hệ thống công nghiệp. Xét theo địa bàn, TPHCM hiện là đô thị chiếm tỷ lệ tồn dư khoảng 34% lượng môi chất lạnh so với cả nước, tiếp đến là Hà Nội với 20%, Hải Phòng và Đồng Nai cùng chiếm 5%.

Phát biểu tại hội thảo, ông Bùi Đức Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu - Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Việt Nam đã tham gia Công ước Vienna về bảo vệ tầng ô-dôn và Nghị định thư Montreal từ năm 1994, phê chuẩn Bản sửa đổi, bổ sung Kigali năm 2019.

Ông Bùi Đức Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu - Bộ Nông nghiệp và Môi trường phát biểu. Ảnh: Ánh Tuyết.
Ông Bùi Đức Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu - Bộ Nông nghiệp và Môi trường phát biểu. Ảnh: Ánh Tuyết.

Ông Bùi Đức Hiếu đề nghị các đại biểu, chuyên gia làm rõ xu hướng, thực trạng sử dụng môi chất lạnh, công nghệ làm mát tiên tiến; sáng kiến thí điểm thu hồi, tái chế điều hòa không khí đã qua sử dụng gắn với trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu (EPR); cùng công cụ quản lý vòng đời các chất được kiểm soát RNE phát triển trong khuôn khổ hợp tác giữa Cục Biến đổi khí hậu và các cơ quan chức năng có liên quan.

Cho đến nay, các hoạt động quản lý, loại trừ những chất được kiểm soát tại Việt Nam đã góp phần giảm khoảng 260 triệu tấn CO₂ tương đương. Đáng chú ý, nước ta đã loại trừ hoàn toàn CFC, Halon và CTC.

Đối với HCFC, Việt Nam đã giảm 67,5% so với mức tiêu thụ cơ sở, với hạn ngạch nhập khẩu hiện còn 1.300 tấn mỗi năm. Theo lộ trình, lượng này sẽ giảm xuống khoảng 100 tấn mỗi năm vào năm 2030 và tiến tới loại trừ hoàn toàn từ năm 2040.

Tuy nhiên, nhu cầu bảo dưỡng các thiết bị đang sử dụng HCFC có thể vượt nguồn cung được phép nhập khẩu. Nhiều chuyên gia bày tỏ lo ngại, nhu cầu HCFC ước tính khoảng 2.300 tấn vào năm 2025, trong khi hạn ngạch nhập khẩu còn khoảng 1.300 tấn, tạo ra khoảng thiếu hụt 1.000 tấn.

Trong giai đoạn 2030-2037, Việt Nam cần thu gom, tái chế trung bình khoảng 390 tấn HCFC mỗi năm, tổng cộng khoảng 3.000 tấn trong bảy năm, để đáp ứng nhu cầu bảo dưỡng thiết bị đang vận hành.

Bà Nguyễn Đặng Thu Cúc, Phó trưởng phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng ô-dôn - Cục Biến đổi khí hậu phát biểu. Ảnh: Ánh Tuyết.
Bà Nguyễn Đặng Thu Cúc, Phó trưởng phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng ô-dôn - Cục Biến đổi khí hậu phát biểu. Ảnh: Ánh Tuyết.

Tại hội thảo, bà Nguyễn Đặng Thu Cúc, Phó trưởng phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng ô-dôn - Cục Biến đổi khí hậu cho biết, hiện nay khung pháp luật về quản lý các chất được kiểm soát đã được xây dựng từ Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Nghị định 06/2022, các nghị định sửa đổi, bổ sung và văn bản hướng dẫn thi hành.

Trong đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Kế hoạch quốc gia quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn và chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát. Từ đó, đặt ra yêu cầu quản lý không chỉ đối với môi chất mà còn cả thiết bị chứa môi chất.

Theo bà Cúc, việc quản lý cần mở rộng từ nhập khẩu, tiêu thụ và loại trừ sang toàn bộ vòng đời, bao gồm sử dụng, thu gom, thu hồi, tái chế, tái sinh, tái sử dụng và xử lý môi chất từ sản phẩm, thiết bị.

Đồng thời, Chính phủ cũng khuyến khích thu gom, tái chế và tái sử dụng; chỉ yêu cầu tiêu hủy khi môi chất không thể tái chế hoặc tái sử dụng. Hiện, Chính phủ cũng đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thu gom, vận chuyển, lưu giữ, tái chế, tái sử dụng và xử lý các chất được kiểm soát.

Đối với môi chất được tái chế, quy định hiện hành cho phép đưa trở lại thị trường khi chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn và có xác nhận của bên thứ ba. Cách tiếp cận này nhằm khuyến khích hình thành nguồn cung môi chất tái chế, góp phần giảm áp lực thiếu hụt khi hạn ngạch nhập khẩu bị thắt chặt.

Các chuyên gia cho rằng, cần có chế tài xử phạt mạnh hơn để kiểm soát ô nhiễm không khí.
Các chuyên gia cho rằng, cần có chế tài xử phạt mạnh hơn để kiểm soát ô nhiễm không khí.

Nhiều chuyên gia hiến kế, các nhà sản xuất, nhập khẩu thiết bị cần tổ chức mạng lưới thu gom thông qua đại lý và kênh phân phối; cơ sở dịch vụ phải thu gom môi chất vào bình chứa thay vì xả thải, tuân thủ quy trình kỹ thuật và ghi chép lượng thu hồi. Các doanh nghiệp sử dụng thiết bị lớn cần lập kế hoạch bảo dưỡng, thay thế phù hợp với lộ trình giảm hạn ngạch, còn đơn vị xử lý cần mở rộng khả năng tái chế và kết nối dữ liệu với hệ thống theo dõi quốc gia.

Bên cạnh thu hồi môi chất, công tác quản lý nhà nước cần đặt ra yêu cầu tăng cường cơ sở tái chế, tái sử dụng, đào tạo kỹ thuật viên, nâng cao hiệu quả năng lượng của thiết bị và thúc đẩy các giải pháp làm mát thụ động trong công trình xây dựng.

Các chuyên gia cho rằng, Chính phủ cần chỉ đạo quyết liệt trong thu hồi môi chất lạnh, sẽ không chỉ giúp giảm phát thải khí nhà kính mà còn tạo nguồn cung phục vụ bảo dưỡng thiết bị trong bối cảnh hạn ngạch nhập khẩu ngày càng giảm.

THÀNH LUÂN