Tạo cơ chế khơi thông tiềm năng du lịch biển đảo
Góp ý đối với những nội dung sửa đổi Luật Du lịch, các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) nêu vấn đề, việc sửa đổi không chỉ nhằm tháo gỡ vướng mắc trước mắt mà còn phải tạo dư địa cho những phương thức phát triển mới.
Trong đó, khai thác bền vững tài nguyên biển, đảo và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là những hướng đi quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh, hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, vừa qua sau khi nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 7 luật thuộc lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể thao và du lịch, các ĐBQH đã tiến hành thảo luận tại tổ.
Góp ý đối với những nội dung sửa đổi Luật Du lịch, ĐBQH Tạ Đình Thi (đoàn Hà Nội) tập trung vào 2 vấn đề: Tạo cơ chế khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch biển, đảo và thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trong đó có cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.
Ông Thi cho rằng, việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục công nhận điểm du lịch, khu du lịch và xếp hạng cơ sở lưu trú sẽ góp phần tháo gỡ những vướng mắc, tạo điều kiện thu hút đầu tư, nhất là các dự án nghỉ dưỡng, du lịch tàu biển và du lịch đảo quy mô lớn. Tuy nhiên, để du lịch biển, đảo thực sự trở thành động lực tăng trưởng, những lợi thế về tài nguyên, cảnh quan và vị trí địa lý cần được chuyển hóa thành các chính sách phát triển cụ thể.
Phân tích từ ĐBQH Tạ Đình Thi cho thấy, du lịch biển hiện chiếm khoảng 65% lượng khách và đóng góp hơn 70% tổng thu nhập của ngành du lịch Việt Nam. Đây là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, khai thác tốt hơn tiềm năng của lĩnh vực này. Theo đó, ông đề nghị cụ thể hóa các định hướng của Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, Nghị quyết số 139/2024/QH15 về Quy hoạch không gian biển quốc gia và Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Luật cần bổ sung khái niệm “du lịch biển, đảo”, “sản phẩm du lịch biển, đảo”; đồng thời có chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đối với các khu du lịch quốc gia ven biển, hải đảo. Yêu cầu đặt ra lúc này là phát triển du lịch biển phải gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo và gìn giữ đa dạng sinh học. Việc khai thác tài nguyên phục vụ du lịch cần đặt trong tầm nhìn dài hạn, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần.
Theo Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của 7 luật thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch nhằm bảo đảm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh; đồng thời tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn. Cụ thể hơn đối Luật Du lịch, dự thảo sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ 38/78 điều, tập trung vào 4 nhóm nội dung lớn. Thứ nhất, phân cấp thẩm quyền công nhận, thu hồi quyết định công nhận điểm du lịch hoặc khu du lịch quốc gia nằm trên địa bàn hai đơn vị hành chính cấp tỉnh. Thứ hai, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thủ tục cấp phép lữ hành và hoạt động hướng dẫn du lịch. Thứ ba, bổ sung quy định về các loại hình lưu trú du lịch mới, thẻ hướng dẫn viên du lịch điện tử và công nhận văn bằng do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp theo quy định của pháp luật về giáo dục. Thứ tư, bãi bỏ quy định về quy hoạch du lịch và quy định về cấp ngân sách nhà nước hằng năm bổ sung cho Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch, nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Liên quan đến phát triển du lịch biển đảo, theo phân tích từ các chuyên gia, trong quy hoạch và quản trị du lịch biển tương lai, cần coi thời gian lưu trú, mức chi tiêu, tỷ lệ quay lại và tỷ lệ giá trị được giữ lại tại địa phương là những chỉ số quan trọng bên cạnh tổng lượng khách. Định hướng này cũng được Nghị quyết 26-NQ/TW đặt ra khi nhấn mạnh việc thu hút các nhóm khách có khả năng chi tiêu cao, lưu trú dài ngày, qua đó nâng cao giá trị tạo ra trên mỗi du khách. Với du lịch biển, đây là sự thay đổi quan trọng về cách đo lường hiệu quả: Không chỉ hỏi có bao nhiêu khách đến, mà còn phải đánh giá mỗi du khách tạo ra bao nhiêu giá trị và bao nhiêu giá trị trong đó được giữ lại cho địa phương.
Yêu cầu xây dựng các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và bền vững được đặt ra trong Nghị quyết số 20-NQ/TW. Cùng đó, Nghị quyết số 26-NQ/TW đồng thời nhấn mạnh việc ứng dụng AI, IoT và các hệ thống cảm biến để theo dõi việc sử dụng năng lượng, nước, chất lượng môi trường và sức tải của điểm đến. Điều đó cho thấy bảo vệ tài nguyên không còn chỉ là yêu cầu về môi trường, mà đang trở thành một bộ phận của năng lực cạnh tranh du lịch.