Báo Đại Đoàn Kết Tinh hoa Việt

Thật giả giữa nghệ thuật và AI

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Thật giả giữa nghệ thuật và AI

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Sự lên ngôi của trí tuệ nhân tạo (AI) trong sáng tạo nghệ thuật đã mở ra nhiều cuộc thảo luận nhằm định nghĩa lại cấu trúc của sự sáng tạo, đặt ra những bài toán pháp lý về ranh giới sáng tạo và quyền tác giả.

Một bức tranh được thể hiện bởi AI.
Một bức tranh được thể hiện bởi AI.

1. Sự xuất hiện của AI trong văn học, trong âm nhạc…đã làm đảo lộn quan niệm truyền thống trong sáng tạo nghệ thuật.

 Giới chuyên môn có hai phái - một bên cho rằng dùng AI là “chép ý tưởng”, “trộn tư duy”. Nếu trước đây, một nhà văn, một họa sĩ, một nhà biên kịch có vốn sống cũng phải mất nhiều năm mới hình thành một tác phẩm nghệ thuật. Giờ đây chỉ cần vài câu lệnh cho AI là đã có tác phẩm khá hoàn chỉnh.

   Hiệp hội Sáng tạo và Bản quyền tác giả Việt Nam (VCCA) đã có những cuộc hội thảo. Đại diện của VCCA và các nghệ sĩ bày tỏ sự thán phục trước tốc độ của AI trong nghệ thuật sáng tạo, đồng thời cho rằng, cần có cơ chế bảo vệ để nghệ sĩ không bị tổn thương bởi sự “đạo văn” từ AI. Rõ ràng là các nghệ sĩ không phủ nhận sức mạnh của AI, nhưng cũng không bình thường hóa các sản phẩm chắp vá dữ liệu, lại được coi là “nghệ thuật đích thực”.

Với phía xem AI như một cộng sự đắc lực, thì ở đó năng lực của người nghệ sĩ được chuyển từ kỹ năng thực hiện như vẽ, viết sang năng lực tư duy, biết ra đề bài và xử lý kết quả. Họ dón nhận AI với tinh thần cởi mở, coi AI không thể thay thế con người mà là “siêu công cụ” giải phóng đôi tay và kích thích cho những ý tưởng sáng tạo. Nhiều chuyên gia công nghệ cũng khảng định, AI không lấy đi công việc của nghệ sĩ, mà những nghệ sĩ biết dùng AI sẽ thay thế những nghệ sĩ không biết dùng AI.

Ở hai thành phố đầu tàu cả nước có đội ngũ trí thức hùng hậu - Hà Nội và TPHCM, các trường đại học đào tạo truyền thông đa phương tiện, mỹ thuật ứng dụng, kiến trúc hai thành phố này đã đưa AI vào môn học bổ trợ hoặc tổ chức các buổi workshop chuyên sâu, coi AI là một kỹ năng bắt buộc phải làm chủ, một phương tiện tăng cường tư duy của người sáng tạo trong thời đại số.

AI đang cách mạng hóa chuỗi cung ứng công nghiệp văn hóa như điện ảnh, thiết kế, âm nhạc...nhờ khả năng tối ưu hóa thời gian và chi phí, đồng thời tạo ra áp lực sàng lọc rất lớn đối với lao động nghệ thuật thuần kỹ thuật.

Tháng 7/ 2025, Hội thảo khoa học quốc gia về Công nghiệp Văn hóa đã dành phần lớn thời gian để các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ mổ xẻ trực diện cách thuần hóa AI nhằm tạo ra giá trị gia tăng kinh tế, nhưng không làm mất đi bản sắc Việt.

Bản quyền với các sản phẩm nghệ thuật liên quan đến AI sau những tranh luận gay gắt thì nguyên tắc pháp lý cốt lõi đã được Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam khảng định: chỉ có cá nhân nào đó mới được công nhận là tác giả, AI không thể đứng tên bản quyền.

 Đầu năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định 134 sửa đổi hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ. Từ đây luật pháp nước ta đưa ra ranh giới rõ ràng giữa tác phẩm với sự hỗ trợ của AI có thể được bảo hộ quyền tác giả. Đó là khi người nghệ sĩ chứng minh được có sự kiểm soát và đóng góp sáng tạo đáng kể của họ. Ví như nghệ sĩ sử dụng AI làm phác thảo, sau đó chỉnh sửa, cắt ghép, thêm thắt chất liệu cá nhân tối thiểu từ 30-50%. Nếu chỉ gõ một câu lệnh để AI xuất ra 100% kết quả, tác phẩm đó không ai được độc quyền, thuộc về công chúng.

2. Nhưng làm sao để biết được tác phẩm đó có chất liệu cá nhân tối thiểu 30-50%? Câu trả lời là dùng phần mềm AI để quét xem tác giả đã sử dụng bao nhiêu phần trăm AI. Nhưng hiện tại phần mền này rất dễ đưa ra kết quả sai lệch. Máy móc dựa tỷ lệ phần trăm cơ học không thể thay thế được mắt của các chuyên gia trong ngành. Ở mỗi lĩnh vực sẽ lập ra Hội đồng thẩm định tác phẩm, ví như Hội đồng mỹ thuật hoặc âm nhạc sẽ đánh giá xem phần chất liệu cá nhân đó có tạo ra phong cách nghệ thuật của tác giả không, hay chỉ là những chỉnh sửa thô sơ?

Mặc dù khung pháp lý và nhận thức đã tiến một bước dài, nhưng “nút thắt” lớn trên thực tế hiện nay vẫn là chưa có “tiêu chí định lượng” trong nghệ thuật và công cụ giám định kỹ thuật.

  Các bài toán hóc búa cần tiếp tục xử lý là:

Sự mơ hồ của con số 30% - 50%. Nghệ thuật vốn là thế giới của định tính, không phải định lượng. Làm sao để cân đo chính xác một sự “thêm thắt chất liệu cá nhân” là đáng kể hay hời hợt khi sự can thiệp đó đôi khi không nằm ở số đoạn văn, lượng hình ảnh hay số nốt nhạc mà ở sự thay đổi hoàn toàn tầng nghĩa của tác phẩm? Ranh giới này rất dễ dẫn đến sự tùy tiện trong thẩm định của các Hội đồng chuyên môn khác nhau.

 Thứ đến, sẽ là “gánh nặng thủ tục” đối với nghệ sĩ. Vì quy trình bắt buộc người làm nghề phải minh bạch câu lệnh cho AI, nộp bản thô và chứng minh qua “nhật ký sáng tạo” vô hình trung đã tạo rào cản hành chính rườm rà, làm giảm đi sự tự do và cảm hứng vốn có của quá trình sáng tác độc bản.

Câu chuyện bây giờ là cần xây dựng một “bộ tiêu chuẩn giám định công nghệ” đồng bộ kết hợp với hướng dẫn thực thi rõ ràng, khả thi, để quy định pháp luật thực sự trở thành bệ đỡ bảo vệ nghệ sĩ chứ không phải một bộ lọc cơ học làm khó dễ cho sự sáng tạo.

 Văn học là thế giới của ngôn từ, biểu tượng và các tầng nghĩa ẩn kín. Việc dùng các con số 30 - 50% để đo lường sự “đạo văn” hay “sáng tạo” trở nên vô nghĩa. Một nhà văn có thể chép lại nguyên văn một câu ca dao, một đoạn kinh điển, nhưng đặt vào một bối cảnh hoàn toàn mới để tạo ra một tầng nghĩa mới; Trong khi kẻ đạo văn tinh vi có thể dùng AI để thay đổi từng chữ tới cấu trúc câu, nhưng cốt truyện, hệ thống nhân vật và tư tưởng cốt lõi thì vẫn là sự ăn cắp.  Vì vậy, để giám định tác phẩm văn học, Bộ tiêu chí cần bóc tách tác phẩm dựa trên các tầng cấu trúc, như tác động ngữ nghĩa. Tiêu chí này tập trung vào việc đánh giá xem chất liệu cũ khi đưa vào tác phẩm mới có thay đổi cốt lõi tầng nghĩa hay không. Tác phẩm mới sử dụng chất liệu cũ như một phương tiện để nói về một chủ đề khác, hay chỉ đơn thuần là sự lặp lại hời hợt? Văn học không chỉ là câu chữ riêng lẻ mà là cách tổ chức câu chữ. Nếu tách bỏ toàn bộ phần chất liệu mượn AI hỗ trợ ra, văn bản còn lại của tác giả có tự đứng vững như một chỉnh thể nghệ thuật có ý nghĩa hay không? Nếu phần còn lại vô nghĩa, chứng tỏ dấu ấn cá nhân của tác giả chưa đủ độ chín tài năng để làm chủ tác phẩm.

Bộ tiêu chí này sẽ thay câu hỏi “bao nhiêu phần trăm” thành câu trả lời, sự hỗ trợ của AI có tạo ra một bản chất nghệ thuật mới hay không? Nếu được như vậy thì khung pháp lý về Sở hữu trí tuệ sẽ dễ dàng thực hiện hơn nhiều.

ĐĂNG NGỌC