Báo Đại Đoàn Kết Văn hóa

Thích ứng với tư duy “tạo tài sản điện ảnh”

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Thích ứng với tư duy “tạo tài sản điện ảnh”

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Thích ứng với tư duy “tạo tài sản điện ảnh”
Cần chú trọng bảo vệ bản quyền điện ảnh và trải nghiệm khán giả. Ảnh TL

Trong khuôn khổ Liên hoan Phim châu Á Đẵng Nẵng lần thứ IV (DANAFF IV) đang diễn ra, Hội thảo “Trí tuệ nhân tạo, công nghệ số và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong điện ảnh” thu hút sự quan tâm của những người làm nghề. Băn khoăn lớn được đặt ra là làm thế nào để xây dựng nền điện ảnh số mang bản sắc Việt Nam trong thời đại AI.

AI đang thay đổi ngành điện ảnh

Thứ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Huy Dũng phân tích, năm 2025, doanh thu phòng vé Việt Nam đạt gần 5.600 tỷ đồng, với hơn 70 triệu lượt vé bán ra; phim Việt chiếm khoảng 62% thị phần phim ra rạp. Năm 2025 cũng ghi nhận trên 50 phim Việt phát hành, mức cao nhất trong khoảng một thập kỷ. Điều đó cho thấy điện ảnh Việt Nam đã là một ngành kinh tế sáng tạo có quy mô, có khán giả, có dữ liệu, có dòng tiền và có trách nhiệm pháp lý.

Nhưng cũng trong bức tranh ấy, số lượt xem phim tại rạp bình quân của người Việt Nam mới khoảng 0,7 lần/người/năm, thấp hơn một số thị trường trong khu vực như Malaysia (1 lần/người/năm) hay Singapore (1,3 lần/người/năm), nghĩa là dư địa tăng trưởng còn rất lớn. Nếu chúng ta làm tốt hơn về chất lượng nội dung, phân phối số, quảng bá, bảo vệ bản quyền và trải nghiệm khán giả, điện ảnh Việt Nam còn có thể đi xa hơn nhiều so với kết quả hiện nay.

Ở chiều ngược lại, trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi rất nhanh cấu trúc chi phí và cấu trúc năng lực của ngành điện ảnh. Một số nghiên cứu quốc tế dự báo thị trường AI trong làm phim có thể tăng từ hơn 3 tỷ USD năm 2024 lên trên 20 tỷ USD vào đầu thập niên 2030. Nhiều thử nghiệm cho thấy AI có thể hỗ trợ viết kịch bản, dựng bản phác thảo cảnh quay (storyboard), tiền kỳ, hậu kỳ, kỹ xảo hình ảnh, lồng tiếng, phụ đề, phục chế, phân tích khán giả và quảng bá. Những việc trước đây cần nhiều tháng, nhiều đội ngũ, nhiều ngân sách, nay có thể được làm nhanh hơn, rẻ hơn và cá nhân hóa hơn.

Ông Nguyễn Huy Dũng nhận định, trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi rất nhanh cấu trúc chi phí và cấu trúc năng lực của ngành điện ảnh. Nhiều thử nghiệm cho thấy AI có thể hỗ trợ viết kịch bản, dựng bản phác thảo cảnh quay (storyboard), tiền kỳ, hậu kỳ, kỹ xảo hình ảnh, lồng tiếng, phụ đề, phục chế, phân tích khán giả và quảng bá.

TS Ngô Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam, Giám đốc DANAFF IV cho rằng, thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển đặc biệt khi AI, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và công nghệ số đang làm thay đổi căn bản phương thức vận hành của nền kinh tế cũng như các ngành công nghiệp sáng tạo. Đối với những nền điện ảnh đang phát triển như Việt Nam, AI và công nghệ số không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn là cơ hội để rút ngắn khoảng cách phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị điện ảnh quốc tế.

Bảo vệ bản quyền trong thời đại số

Dẫu thế, có một nghịch lý đáng chú ý được chỉ ra: Phim có diễn viên người thật tuy ít hơn rất nhiều về số lượng, nhưng lại thu hút lượt xem cao hơn đáng kể. Tốc độ không thay thế được cảm xúc. Hệ quả pháp lý cũng xuất hiện ngay sau khi nhiều diễn viên phát hiện hình ảnh của mình bị tái tạo mà không có sự đồng ý, buộc cơ quan quản lý phải ban hành quy định mới.

Thực tế cho thấy, càng phát triển, ngành điện ảnh càng phải đối diện với những vấn đề mới. Khi một tác phẩm có thể bị sao chép, cắt ghép, phát tán trái phép chỉ trong vài phút trên môi trường mạng; khi AI có thể tạo ra nội dung dựa trên dữ liệu được thu thập từ hàng triệu tác phẩm sáng tạo; khi ranh giới giữa sáng tạo của con người và sản phẩm do máy móc hỗ trợ ngày càng trở nên phức tạp, thì câu chuyện bảo vệ tài sản trí tuệ trở thành vấn đề sống còn đối với ngành công nghiệp điện ảnh. Như vậy sẽ có cả cơ hội lẫn rủi ro mà AI đang mang tới. Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: Việt Nam sẽ học được gì và sẽ tránh được gì?

Theo ông Nguyễn Huy Dũng: Chúng ta không chạy theo AI để cho thấy mình cũng có AI. Chúng ta dùng AI để giải quyết những điểm nghẽn thật như chi phí cao, thời gian dài, thiếu dữ liệu thị trường, thiếu dữ liệu khán giả, vi phạm bản quyền, phân phối quốc tế còn yếu, kho di sản chưa được khai thác và thiếu nhân lực kết hợp giữa nghệ thuật, pháp lý và công nghệ. Đặc biệt, cần chuyển từ tư duy “làm phim” sang tư duy “tạo tài sản điện ảnh”. Theo đó, bộ phim không kết thúc khi rời rạp mà tiếp tục có đời sống trên các nền tảng số, truyền hình, giáo dục, du lịch, trò chơi, sản phẩm phái sinh và giao lưu quốc tế. Vì vậy, quyền sở hữu trí tuệ phải được quản trị ngay từ khi hình thành dự án, thay vì chỉ xử lý sau khi phim hoàn thành.

TS Ngô Phương Lan nhấn mạnh: Không có sáng tạo nếu người sáng tạo không được bảo vệ. Không có công nghiệp văn hóa bền vững nếu quyền sở hữu trí tuệ không được tôn trọng. Chính vì vậy, những nỗ lực gần đây của Chính phủ Việt Nam trong việc hoàn thiện thể chế, tăng cường thực thi pháp luật và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống các hành vi xâm phạm bản quyền trên môi trường số được đánh giá rất cao. Đây không chỉ là yêu cầu của hội nhập quốc tế mà còn là nền tảng để xây dựng một môi trường sáng tạo lành mạnh, công bằng và bền vững cho các ngành công nghiệp văn hóa của đất nước.

Dung Hòa