Thiếu sách giáo khoa và trách nhiệm cầu thị
Gần 4 triệu cuốn sách giáo khoa còn thiếu khi năm học mới đã đi qua những tuần đầu tiên là con số đủ lớn để cần đặt ra vấn đề về việc này. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thẳng thắn nhận trách nhiệm về những hạn chế trong dự báo, phân tích nhu cầu, kết nối dữ liệu và điều phối cung ứng.
Sự nhận trách nhiệm ấy cần được nhìn nhận như điểm khởi đầu của một cuộc chấn chỉnh căn cơ, bởi sách giáo khoa là một điều kiện thiết yếu của việc học, và không thể để mỗi mùa khai giảng lại thấp thỏm câu chuyện học sinh có đủ sách hay chưa.
Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến 18 giờ ngày 14/9, các địa phương còn thiếu 3.916.370 cuốn sách giáo khoa, tương đương khoảng 1,5% tổng nhu cầu. Trên cơ sở nhu cầu được các địa phương xác nhận, Bộ đã chỉ đạo Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam tiếp tục điều chuyển, cung ứng bổ sung ngay trong ngày 15/9, ưu tiên những trường hợp học sinh chưa có sách hoặc còn thiếu nhiều đầu sách, đặc biệt là học sinh tại các trường nội trú ở địa bàn biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và học sinh thuộc diện được hỗ trợ, cấp hoặc cho mượn sách giáo khoa.
Nhìn vào tỷ lệ 1,5%, có thể cho rằng đây là tỷ lệ không lớn so với tổng nhu cầu. Nhưng giáo dục không phải là bài toán chỉ có thể nhìn bằng tỷ lệ phần trăm. Với một học sinh chưa có cuốn sách cần thiết cho môn học, sự thiếu hụt ấy không phải là 1,5%, mà là toàn bộ điều kiện học tập của em đối với cuốn sách đó chưa được đáp ứng.
Quy mô của việc sản xuất và phân phối sách giáo khoa là rất lớn. Đây không phải một chuỗi cung ứng đơn giản, bởi số lượng sách phải đáp ứng đồng thời nhiều yêu cầu về chương trình, cấp học, môn học, địa bàn và thời điểm. Nhưng chính quy mô ấy càng đòi hỏi công tác dự báo phải chính xác và hệ thống điều phối phải linh hoạt.
Bộ Giáo dục và Đào tạo lý giải năm học 2026-2027 có nhiều yếu tố mới tác động đồng thời. Bao gồm các lý do như: Đây là năm đầu tiên thực hiện một bộ sách giáo khoa sử dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc theo Nghị quyết 71-NQ/TW; một số địa phương thực hiện chính sách hỗ trợ, cấp sách giáo khoa; việc sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức lại mạng lưới trường, lớp làm thay đổi nhu cầu; trong khi thời gian từ khi nhu cầu được xác định đầy đủ đến thời điểm phải đáp ứng rất ngắn.
Những yếu tố khách quan ấy có thể làm nhu cầu biến động lớn và phát sinh trong thời gian ngắn. Sản xuất, in ấn và cung ứng sách lại cần một khoảng thời gian nhất định để chuẩn bị. Mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo thẳng thắn nhận trách nhiệm nhưng những khó khăn khách quan không có nghĩa là có thể bỏ qua những hạn chế chủ quan.
Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định công tác dự báo, tổng hợp và phân tích nhu cầu sách giáo khoa trong điều kiện mới chưa theo kịp thực tế; việc đánh giá năng lực tổ chức sản xuất, quản trị và mạng lưới cung ứng của NXB Giáo dục Việt Nam chưa đầy đủ; giải pháp khắc phục một số hạn chế trong tổ chức cung ứng, điều phối nguồn sách chưa đủ nhanh và linh hoạt.
Ở phía địa phương, công tác đăng ký, dự báo và phối hợp cung ứng tại một số nơi cũng chưa thật chủ động, dẫn đến khoảng cách giữa nhu cầu thực tế và thông tin phục vụ cung ứng. Việc cập nhật nhu cầu phát sinh, nhất là sau những thay đổi về tổ chức trường, lớp, chính sách hỗ trợ sách giáo khoa và nhu cầu mua thêm của học sinh, cha mẹ học sinh, ở một số địa phương chưa kịp thời.
Và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định rất rõ: “Trách nhiệm để xảy ra tình trạng thiếu sách giáo khoa cục bộ thuộc về Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam và các địa phương”.
Sự thẳng thắn này đáng ghi nhận, nhưng nhận trách nhiệm mới chỉ là bước đầu. Điều dư luận quan tâm hơn là sau nhận trách nhiệm sẽ là những thay đổi gì, thay đổi ở đâu và thay đổi bằng cơ chế nào để câu chuyện tương tự không lặp lại.
Bởi nếu nguyên nhân đã được chỉ ra là dự báo chưa sát, dữ liệu chưa kết nối, điều phối chưa nhanh, năng lực cung ứng chưa được đánh giá đầy đủ thì giải pháp cũng phải đi đúng vào những điểm nghẽn ấy.
Không thể chỉ đến khi học sinh thiếu sách mới tiếp tục rà soát nhu cầu. Và đến sát thời điểm khai giảng mới phát hiện sự chênh lệch giữa lượng sách cần và lượng sách có.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết sẽ rà soát, đề xuất hoàn thiện cơ chế quản lý sách giáo khoa theo hướng xác định đây là sản phẩm, dịch vụ công, mặt hàng thiết yếu đặc thù, đồng thời quản trị toàn bộ chuỗi cung ứng dựa trên dữ liệu thống nhất; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, địa phương và doanh nghiệp; xây dựng cơ chế dự phòng, điều phối linh hoạt, bảo đảm cung ứng chủ động, ổn định ngay từ đầu mỗi năm học. Dư luận kỳ vọng vấn đề thiếu sách giáo khoa không còn lặp lại.