Báo Đại Đoàn Kết Quốc tế

Thổ Nhĩ Kỳ: Liên hoàn đảo chính

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Thổ Nhĩ Kỳ: Liên hoàn đảo chính

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Mưu toan đảo chính của lực lượng vũ trang Thổ Nhĩ Kỳ đêm 16/7 vừa qua đã bị thất bại. Mặc dù tại quốc gia này quân đội luôn luôn đóng một vai trò đặc biệt quan trọng nhưng không phải lúc nào các vị tướng cũng đạt được điều họ muốn bằng con đường binh biến. Tuy nhiên, họ vẫn góp tay tạo ra những bước ngoặt trong lịch sử hiện đại của “hậu duệ” đế chế Ốttôman. Và gần như cuộc đảo chính nào cũng gây ra những hệ lụy đau thương và đẫm máu.

Thổ Nhĩ Kỳ: Liên hoàn đảo chính

Tổng thống đương nhiệm Recep Tayyip Erdogan.

Thủ tướng bị treo cổ

Cuộc đảo chính mới nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ đã làm ít nhất 290 người thiệt mạng, trong đó 104 người thuộc phe đảo chính, còn lại là cảnh sát và dân thường. Hơn 6.000 người bị nghi ngờ có liên quan tới vụ đảo chính đã bị bắt giữ, trong đó có nhiều quân nhân, quan tòa và cảnh sát (103 tướng quân đội, 2.754 quan tòa và thẩm phán…) Tổng thống Recep Tayyip Erdogan tuyên bố có thể khôi phục án tử hình, vốn đã bãi bỏ từ năm 2004, nhằm trừng phạt những người tham gia đảo chính… Gần 9.000 công chức bị sa thải… Xuất hiện mối lo ngại rằng các cuộc thanh lọc do vị tổng thống vừa thoát hiểm tiến hành sẽ gây nên những khủng hoảng mới trong xã hội Thổ Nhĩ Kỳ…

Nhìn lại quá khứ, có thể thấy cuộc đảo chính quân sự đẫm máu nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ chính là cuộc đảo chính bùng nổ ngày 27/5/1960. Ở thời điểm đó, cầm cương đất nước trong suốt 10 năm là nhà lãnh đạo của Đảng Dân chủ, Thủ tướng Adnan Menderes, một chính khách cứng nhắc và độc đoán. Ông này được nhiều nhà bình luận coi là “tiền thân” của đương kim Tổng thống Erdogan, vì đã là người khởi xướng ra xu hướng xét lại những di sản của Mustafa Kermal Ataturk. Menderes đã không chỉ chơi trò mèo vờn chuột với bộ phận dân chúng thất học và bảo thủ tôn giáo trong xã hội Thổ Nhĩ Kỳ, mà còn gây hấn với tất cả các lực lượng chính trị có ảnh hưởng trong nước.

Vào cuối những năm 50 của thế kỷ trước, Menderes đã siết chặt chế độ kiểm duyệt và lập ra một bộ máy đàn áp tàn nhẫn. Theo chỉ đạo của Menderes, toàn bộ các tài sản mà Ataturk để lại cho Đảng Nhân dân Cộng hòa Kemalist (CHP) Thổ Nhĩ Kỳ đều bị sung công. Và không chỉ thế, tới mùa xuân năm 1960, ủy ban đặc biệt về điều tra "các hoạt động chống nhà nước và khủng bố" của đảng CHP đối lập đã bắt tay vào việc.

Menderes cố gắng làm suy yếu ảnh hưởng của quân đội. Giới tinh hoa quân sự bắt đầu cảm thấy khó chịu trước những hành vi bẻ hành bẻ tỏi từ phía chính phủ cố tình làm giảm uy tín của công việc nhà binh. Trong thời gian cầm quyền của Menderes, trợ cấp dành cho quân đội liên tục bị cắt giảm.

Những cố gắng khôi phục trở lại đạo Hồi về với trong đời sống xã hội và chính trị của đất nước, những trò khích lệ chủ nghĩa dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ, dẫn tới những cuộc tàn sát người gốc Hy Lạp ở Istanbul năm 1955, xung đột với quân đội và giới trí thức - tất cả những điều đó đã dẫn Adnan Menderes đến sự sụp đổ. Việc lật đổ ông đã được khởi xướng bởi tư lệnh lục quân, tướng Cemal Gursel và đại tá Alparslan Turkes. Bất chấp làn sóng phản đối từ các nhà lãnh đạo nhiều nước châu Âu, những nhà cầm quyền mới ở Thổ Nhĩ Kỳ đã xử lý rất tàn nhẫn những người tiền nhiệm. Tới tháng 9/1961, cựu Thủ tướng Menderes cùng với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Fatin Zorlu và Bộ trưởng Tài chính Hasan Polatkanom đã bị treo cổ trong nhà tù khét tiếng trên đảo Imrali ở Biển Marmara theo phán quyết của tòa án quân sự, buộc cho họ tội phản quốc, vi phạm Hiến pháp và tham nhũng. Năm 1987, Menderes, Zorlu và Polatkana đã được phục hồi danh dự sau khi chết và vào năm 1990, hài cốt của họ đã được cải táng với tất cả những nghi lễ cao nhất trong một lăng mộ được xây dựng đặc biệt ở nghĩa trang Topkapi thuộc Istanbul.

Một năm sau đảo chính, một bản Hiến pháp mang tính tự do hơn của Thổ Nhĩ Kỳ đã được xác lập thông qua trưng cầu ý dân. Năm 1965, lần đầu tiên tại đây đã diễn ra các cuộc bầu cử tự do và dân chủ. Chức vụ Thủ tướng đã lọt về tay ông Suleyman Demirel.

Thổ Nhĩ Kỳ: Liên hoàn đảo chính - 1

Binh lính Thổ Nhĩ Kỳ trên đường phố trong cuộc đảo chính tháng 7/2016.

“Đảo chính bị vong lục”

Sau những cuộc cải cách ruộng đất thành công, bộ phận nông dân sung sức nhất (chủ yếu là những thanh niên) đã bị thành thị quyến rũ ngày một nhiều. Các khu ngoại ô toàn nhà ổ chuột xuất hiện khắp nơi. Căng thẳng xã hội gia tăng, bùng nổ các cuộc biểu tình của những sinh viên bắt đầu cảm thấy bất mãn với tình hình chính trị-xã hội ở Thổ Nhĩ Kỳ. Đất nước trở nên hỗn loạn vì các cuộc đụng độ trên đường phố giữa các nhóm thanh niên Hồi giáo, cánh tả cực đoan và dân tộc chủ nghĩa cực đoan.

Chính phủ Demirel tỏ ra không thể đối phó được với nạn bạo lực đường phố đang làm rung chuyển đất nước. Ngày 12/3/1971, Tổng tham mưu trưởng quân đội Thổ Nhĩ Kỳ, tướng Memduh Tagmach, đã công bố một bị vong lục yêu cầu người đứng đầu nhà nước thành lập một chính phủ dân tin, có thể bình thường hóa tình hình với sự tuân thủ vô điều kiện các tín điều mà Ataturk đã để lại. Cảm thấy bị xúc phạm bởi bị vong lục trên, ông Suleyman Demirel đã tự từ chức, chuyển giao quyền lực cho một nội các kỹ thuật nằm trong quyền điều phối của giới quân sự do ông Nihat Erim đứng đầu. Đó chính là việc mà người ta gọi là “cuộc đảo chính bị vong lục”.

Tuy nhiên, đã không thể có cách gì để nhanh chóng ổn định lại tình hình chính trị-xã hội ở Thổ Nhĩ Kỳ ở thời điểm đó. Tháng Tư năm 1971, lệnh thiết quân luật đã được ban bố và Hiến pháp năm 1961 đã bị thay đổi, hạn chế các quyền và sự tự do của công dân và củng cố trên cơ sở luật pháp về vị thế đặc biệt của các lực lượng vũ trang. Các cuộc trán áp những người bất mãn được tăng cường, quyền hành của các cơ quan thực thi pháp luật được mở rộng đáng kể. Tuy nhiên, cuộc đảo chính nhìn chung đã diễn ra không đổ nhiều máu. Không có cảnh xe tăng thị uy trên đường phố và cũng không có những giá treo cổ dành cho các chính trị gia bị lật đổ, mặc dù một số nhà lãnh đạo của các lực lượng cực tả vẫn bị hành hình.

Chính phủ Erim đã không hoạt động đủ hiệu quả và trong hầu hết thập niên thứ bảy của thế kỷ qua, Thổ Nhĩ Kỳ đã luôn ở sát bên bờ vực nội chiến. Các lực lượng chính trị chủ đạo trong nước luôn trong cảnh cơm không lành canh không ngọt và vì thế, cứ nội các này lên thay thế nội các khác – từ tháng 3/1971 đến tháng 9/1980, tại Thổ Nhĩ Kỳ đã có tới 11 đời chính phủ lên cầm quyền, trong số đó có ba nội các do ông Suleyman Demirel lãnh đạo.

Thổ Nhĩ Kỳ: Liên hoàn đảo chính - 2

Ông Erbakan.

Theo công thức của Pinochet

Sự hỗn loạn bị trầm trọng thêm bở các vấn đề kinh tế tiếp tục gia tăng trongđời sống chính trị-xã hội Thổ Nhĩ Kỳ. Nếu năm 1973 đã có 25 người bị chết trong các cuộc đụng độ đường phố, thì tới năm 1977, con số nạn nhân đã vượt quá 250 người, và tới năm tiếp theo, 1979 - đã có tới 1500 người bị chết. Khủng bố đã không bỏ qua cả các chính trị gia: tháng 5/1971 tại Istanbul, lãnh sự Israel Elroma Ephraim đã bị bắt cóc rồi bị giết chết; tới ngày 19/6/1980, các phần tử cực đoan cánh tả đã bắn chết cựu Thủ tướng Nihat Erim.

Để chấm dứt bạo lực chính trị ở Thổ Nhĩ Kỳ lại thêm một lần nữa cần tớisự can thiệp của quân đội. Vào đêm 12/9/1980, xe tăng đã tràn vào thủ đô Ankara, và người đứng đầu Bộ Tổng Tham mưu quân đội Thổ Nhĩ Kỳ, tướng Kenan Evren, đã lên truyền hình tuyên bố xóa bỏ nội các của thủ tướng Suleyman Demirel, giải tán quốc hội và tất cả các đảng phái chính trị, cũng như dừng hiệu lực của Hiến pháp năm 1961. Chính phủ hỗn hợp dân sự-quân sự được lập ra và do Bulant Ulusu đứng đầu.

Điểm đặc biệt trong sự kiện diễn ra năm 1980 – đó là cuộc đấu tranh của chính quyền không chỉ với các phần tử cực đoan cánh tả như trong năm 1970, mà còn với cả những phần tử cực đoan cánh hữu trước đây vẫn được chính quyền ngấm ngầm ủng hộ. Chính vì thế nên đã bị xóa sổ trong thực tế tổ chức theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan, bán phát xít “Sói xám”, từng được một trong những nhà lãnh đạo của cuộc đảo chính năm 1960, Alparslan Turkes, lập ra. Những người ủng hộ tổ chức này đã bị cáo buộc tội gây ra 694 vụ giết người và sau đó, tòa án tống các nhà lãnh đạo của “Sói xám” vào tù.

Trong ba năm nắm chính quyền, các quân nhân đã dập được làn sóng khủng bố đường phố và ngăn chặn xu thế đất nước trượt vào vực sâu nội chiến. Tuy nhiên, xã hội Thổ Nhĩ Kỳ đã phải trả một giá cao - bạo lực trên đường phố đã bị thay thế bằng các cuộc đàn áp của nhà nước trên quy mô lớn. Hàng trăm nghìn người bị tống giam, trong đó có hơn hai trăm người bị tuyên án tử hình. 171 người bị chết vì các trò tra tấn trong ngục tối, 14.000 nhà hoạt động chính trị đã bị tước quyền công dân Thổ Nhĩ Kỳ và 30.000 người khác buộc phải chạy trốn ra nước ngoài để thoát khỏi đàn áp chính trị. Hàng nghìn người cho đến nay vẫn bị liệt vào danh sách mất tích.

Tháng 11/1982, dưới sự kiểm soát của quân đội, một cuộc bầu cử mới đã được tổ chức nhưng chỉ có ba chính đảng tham gia. Chủ soái đảo chính Kenan Evren đã trở thành tổng thống mới của đất nước. Đồng thời, theo thông báo chính thức, đã có 92% số cử tri bỏ phiếu ủng hộ Hiến pháp mới. Tổng thống được quyền giải tán quốc hội và ban bố tình trạng thiết quân luật; khả năng của các đảng chính trị bị hạn chế một cách đáng kể. Thí dụ, sinh viên và giảng viên của trường đại học nói chung đều bị cấm tham gia vào bất kỳ hoạt động chính trị nào.

Một năm sau tại Thổ Nhĩ Kỳ đã diễn ra cuộc bầu cử mới và quân đội đã chuyển giao quyền lực cho chính phủ dân sự của ông Turgut Ozal. Thủ tướng mới ngay lập tức bắt tay vào cải cách kinh tế theo tinh thần tự do mới. Tướng Evren vẫn ngồi lại trên ghế Tổng thống cho đến năm 1989 rồi chuyển giao cả chức vụ này cho ông Ozal. Tháng 6/2014, xét xử vụ đảo chính năm 1980, tòa án hình sự tại Ankara đã kết án tù chung thân đối với ông Evren, lúc này đang ở tuổi 96, và giáng thân phận xuống vị trí thường dân. Tới tháng 5/2015, viên tướng - cựu Tổng thống này đã qua đời ở bệnh viện thủ đô.

Thổ Nhĩ Kỳ: Liên hoàn đảo chính - 3

Biểu tình chống lại thủ tướng Erbakan và đảng Phúc lợi.

Từ Erbakan tới Erdogan

Những sự kiện xảy ra tháng 2/1997 không phải là một cuộc đảo chính quân sự theo nghĩa cổ điển, mà là kết quả của cuộc đấu tranh chính trị giữa những người ủng hộ con đường phát triển thế tục của Thổ Nhĩ Kỳ với những người Hồi giáo đang ngày một trở nên lớn mạnh hơn. Chính quyền trong nước đã được thay đổi một cách hòa bình và yên tĩnh – không có xe tăng, không có những án tử hình, không có việc giải tán quốc hội và bãi bỏ hiến pháp.

Tháng 7/1996, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã được dẫn dắt bởi ông Necmettin Erbakan, thủ lĩnh Phúc lợi. Và đây là chính trị gia theo chủ nghĩa Hồi giáo đầu tiên trở thành thủ tướng kể từ sau Ataturk. Hai năm trước đó, lần đầu tiên chức thị trưởng Istanbul được bầu cho Recep Tayyip Erdogan, thủ lĩnh chi bộ cơ sở của đảng này ở địa phương và cũng là một trong những bạn đồng chí sát cánh của Erbakan. Trong một năm nắm quyền lực, Erbakan đã có những bước đi nghiêm trọng trong việc Hồi giáo hóa đời sống xã hội và chính trị ở Thổ Nhĩ Kỳ: cho phép phụ nữ xuất hiện trong các cơ sở công cộng với khăn trùm đầu, đánh đồng vị thế của các trường đại học Hồi giáo với các trường đại học thế tục và giảm thời gian làm việc trong các ngày lễ Hồi giáo.

Tháng 2/1997, Tổng thống Suleyman Demirel đã yêu cầu quân đội phải chú ý đến các hoạt động của chính phủ đang tìm cách làm suy yếu nền móng của nhà nước Kemalist và thiết lập thể chế Sharia. Ngày 28/2/1997, tại cuộc họp Hội đồng An ninh Quốc gia, các tướng lĩnh đã đưa ra một bị vong lục cho Thủ tướng, yêu cầu ông này thừa nhận tính chất thế tục của nhà nước Thổ Nhĩ Kỳ và bãi bỏ luật ủng hộ Hồi giáo. Tháng 6/1997, chính phủ của Erbakan đã buộc phải từ chức và tới tháng 1/1998, Tòa án Hiến pháp Thổ Nhĩ Kỳ đã cấm Đảng Phúc lợi do ông này đứng đầu hoạt động.

Cùng năm đó, thị trưởng thành phố Istanbul, Erdogan, đã bị sa thải và bị tống giam bốn tháng vì tội tuyên truyền cho đạo Hồi. Có vẻ như những người ủng hộ thể chế chính trị Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ phải chịu một thất bại nặng nề. Thế nhưng chỉ tới năm 2001, Erdogan, lên thay người thày Erbakan của mình, đã từ những mảnh vụn của Đảng Phúc lợi, đã tạo ra một lực lượng chính trị mới – đảng Công lý và Phát triển. Năm 2002, đảng này đã giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử quốc hội.

Trong những năm Edorgan cầm quyền, quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đã dần dần mất đi ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội trong nước. Một nỗ lực đáng kể cuối cùng nhằm can thiệp vào đời sống chính trị từ phía quân đội, đó là vào năm 2007, khi Tổng tham mưu trưởng, tướng Yasar Byuyukanyt công khai ủng hộ các cuộc biểu tình chống lại sự đề cử một phần tử Hồi giáo, bạn của Erdogan là Abdullah Gul, vào chức tổng thống. Tuy nhiên, trong lần này, mọi sự đã được giới hạn chỉ trong một sự bộc lộ ý định (bản bị vong lục chỉ được đăng trên trang web của Bộ Quốc phòng), và sau cuộc bầu cử quốc hội tháng 7, Abdullah Gul vẫn ngồi vào được ghế Tổng thống.

Erdogan đã tìm ra được những kết luận cần thiết cho mình và bắt đầu những cuộc đàn áp đội ngũ lãnh đạo quân sự cao cấp. Từ năm 2007, trong cả nước đã bắt đầu cuộc điều tra về tổ chức mang tính dân tộc chủ nghĩa “Ergenekon”, bị cáo buộc dường như đã lên kế hoạch lật đổ chính phủ đương nhiệm. Nguyên Tổng tham mưu trưởng Thổ Nhĩ Kỳ Ilker Basbug, đã bị kết án tù chung thân vì tội âm mưu tiến hành một cuộc đảo chính quân sự (sau này, viên tướng đã được trả lại tự do). Tháng 1/2010, các nhà chức trách Thổ Nhĩ Kỳ đã bắt đầu thủ tục tố tụng và kết các bản án dài kỳ hơn đối với sĩ quan quân đội cấp cao về cái gọi là vụ Kuvalda. Theo cáo trạng, những sĩ quan này đã dự định gây ra một số vụ tấn công khủng bố trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ rồi đổ lỗi cho phía Hy Lạp để tuyên bố chiến tranh với quốc gia láng giềng này rồi tiếp theo, tiến hành lật độ chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ…

“Quốc phụ” của nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại cũng là một vị tướng, Mustafa Kemal Ataturk. Ông sinh năm 1880 (hoặc 1881, không có tư liệu chính xác). Về sau, Ataturk đã chọn ngày sinh của mình là ngày 19-5, tức là ngày bắt đầu cuộc đấu tranh giành lại độc lập của nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ trong thời hiện đại. Ngay từ nhỏ, vị Tổng thống tương lai đã tỏ ra mình là một người rất có cá tính và nóng nảy. Cậu bé Mustafa không thích giao du với bạn bè đồng lứa mà hay ngồi một mình, không quan tâm tới ý kiến của những người xung quanh, không thích thỏa hiệp và luôn kiên trì đi theo con đường mà mình đã chọn lựa. Thói quen nói thẳng những gì mình nghĩ về sau đã gây nên không ít phiền toái cho cuộc sống của Ataturk và cũng tạo ra cho ông không ít kẻ thù.

Thân mẫu của Ataturk, một tín đồ Hồi giáo ngoan đạo, rất muốn con trai mình nghiên cứu sâu kinh Coran. Tuy nhiên, người cha lại muốn dành cho con mình một học vấn thế tục hiện đại. Mustafa mồ côi cha khi lên 8 tuổi. Năm 12 tuổi, cậu bé đã vào học trường thiếu sinh quân…

Là một nhà lãnh đạo quân sự giỏi, Ataturk đã rất nổi tiếng với các hoạt động trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Sau khi đế chế Ốttoman thất bại trong thế chiến thứ nhất, Ataturk đã lãnh đạo Phong trào Dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ đấu tranh giành lại độc lập cho đất nước. Và ông cũng đã thành công trong việc biến vùng lãnh thổ còn lại của đế chế Ốttoman thành một nhà nước hiện đại và thế tục. Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ đã được thành lập ngày 29/10/1923 dưới sự tham gia trực tiếp và đóng vai trò quyết định của ông. Những nguyên tắc của cuộc cải cách do Ataturk tiến hành để khai sinh ra đất nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại được biết đến với cái tên chủ nghĩa Kemal. Cho tới nay đó vẫn là cơ sở tư tưởng chính yếu của nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ. Chủ nghĩa Kemal gồm 6 nội dung, từng được đưa vào bản Hiến pháp năm 1937: Tính nhân dân; chủ nghĩa cộng hòa; chủ nghĩa dân tộc; tính thế tục; quyền kiểm soát của nhà nước trong kinh tế; chủ nghĩa cải cách. Chủ nghĩa dân tộc được dành cho một vị trí danh dự, nó được coi như nền tảng của chế độ. Gắn bó cùng với chủ nghĩa dân tộc là tính nhân dân, thể hiện sự thống nhất của xã hội Thổ Nhĩ Kỳ với tình đoàn kết giữa các giai cấp cũng như quyền lực tối thượng của nhân dân và quốc hội như cơ quan đại diện cao nhất của ý chí toàn dân.

Ataturk từng đưa ra khẩu hiệu “Hòa bình trong nhà, hòa bình trên toàn thế giới” thể hiện tính nhất quán trong chính sách đối nội và đối ngoại. Khi ông qua đời, tài sản của Ataturk đã được để lại cho đảng Nhân dân Cộng hòa Kemalist mà ông đã lập nên…

Ataturk mất ngày 10/11/1938. Ông có tên trong danh sách 100 nhân vật được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất trong lịch sử.

Huy Hùng - Phong Thái