Báo Đại Đoàn Kết Công nghệ

Thu hẹp khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Thu hẹp khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Từ định giá tài sản trí tuệ, phát huy vai trò tổ chức trung gian đến đa dạng hóa mô hình liên kết “ba nhà”, Hội thảo khoa học “Kết nối công nghệ và đổi mới sáng tạo” đặt ra yêu cầu đưa hoạt động nghiên cứu gần hơn với nhu cầu doanh nghiệp, thúc đẩy chuyển giao và thương mại hóa kết quả khoa học, công nghệ.

Chiều 3/10, tại Hà Nội, Cục Đổi mới sáng tạo (Bộ Khoa học và Công nghệ) phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội thảo khoa học “Kết nối công nghệ và đổi mới sáng tạo”. Sự kiện nằm trong khuôn khổ nhiệm vụ “Tổ chức Tuần lễ công nghệ Việt Nam năm 2026”, gắn với Ngày hội đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2026 (INNOVATION DAY 2026).

Khoảng cách từ nghiên cứu đến thương mại hóa vẫn còn lớn

Phát biểu tại hội thảo, ông Phạm Việt Hồng, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, cho biết hệ thống pháp luật về khoa học, công nghệ và sở hữu trí tuệ đã từng bước hoàn thiện, trong đó có quy định cho phép tổ chức chủ trì tự quyết định giá và lựa chọn phương thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Đáng chú ý, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 quy định khi thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tác giả được hưởng tối thiểu 30% lợi ích, tổ chức trung gian được hưởng tối thiểu 10%. Những quy định này tạo cơ sở pháp lý để khuyến khích các chủ thể tham gia vào quá trình đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.

Ông Phạm Việt Hồng - Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo phát biểu tại hội thảo.
Ông Phạm Việt Hồng - Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo phát biểu tại hội thảo.

Tuy nhiên, việc chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm phục vụ đời sống và sản xuất vẫn gặp nhiều lực cản. Theo kết quả rà soát của Bộ Khoa học và Công nghệ tại 34 tỉnh, thành phố, tính từ năm 2025 có 751 nhiệm vụ và 728 sản phẩm khoa học, công nghệ đang được triển khai; cùng với đó là 280 sản phẩm dự kiến thực hiện trong năm 2026.

Trong số này, chỉ có 58 nhiệm vụ, tương đương 7,7%, đã hoàn thành và có khả năng thương mại hóa. Số sản phẩm đã và đang được thương mại hóa trên thị trường là 11, chiếm khoảng 1,5%.

“Thực tế trên phản ánh khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường còn rất lớn, trong đó doanh nghiệp chưa thực sự trở thành trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo”, ông Hồng nhận định.

Để thu hẹp khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường, ông Hồng nhấn mạnh cần đưa mô hình liên kết “ba nhà” – Nhà nước, viện trường và doanh nghiệp – đi vào thực chất. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, phát triển hạ tầng, đặt hàng và mở rộng thị trường; viện, trường tạo ra tri thức, công nghệ chất lượng cao và sẵn sàng chuyển giao; còn doanh nghiệp cần dẫn dắt thị trường, đặt ra bài toán thực tế, đồng đầu tư, tiếp nhận và nhân rộng công nghệ. Trong quá trình này, tổ chức trung gian có vai trò kết nối, hỗ trợ bảo hộ sở hữu trí tuệ và đưa sản phẩm ra thị trường.

Phát huy vai trò trung gian, đa dạng hóa liên kết “ba nhà”

Chia sẻ về vai trò của tổ chức trung gian trong hoạt động kết nối cung – cầu công nghệ, ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Trung tâm Thúc đẩy phát triển thị trường khoa học và công nghệ, Cục Đổi mới sáng tạo, nhấn mạnh rằng có nguồn cung và nhu cầu chưa đồng nghĩa với việc có thể chuyển giao ngay.

Theo ông Thành, tổ chức trung gian cần thực hiện nhiều chức năng, từ nhận diện, chuẩn hóa thông tin cung – cầu; tìm kiếm, đánh giá mức độ phù hợp; hỗ trợ hoàn thiện, thử nghiệm và đánh giá hiệu quả công nghệ đến tư vấn xác lập giao dịch, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận và làm chủ công nghệ.

Đây là mắt xích quan trọng bởi giữa một kết quả nghiên cứu và một sản phẩm có thể đưa ra thị trường còn nhiều công đoạn cần được giải quyết. Doanh nghiệp không chỉ cần biết công nghệ nào đang được cung cấp mà còn cần được đánh giá tính khả thi, chi phí đầu tư, khả năng tích hợp và hiệu quả ứng dụng.

Thực tế, mạng lưới tư vấn viên ứng dụng, chuyển giao, đổi mới và phát triển công nghệ SATITECH, từ tháng 11/2023 đến tháng 9/2026, đã phát triển được 12 tổ chức và 123 cá nhân. Tuy nhiên, hệ thống tổ chức trung gian vẫn cần tiếp tục nâng cao chất lượng, chuẩn hóa dữ liệu, phát triển đội ngũ chuyên gia và tăng cường liên kết theo ngành, vùng, địa phương.

Ông Nguyễn Văn Thành đề xuất hoàn thiện thể chế, phát triển đa dạng các tổ chức trung gian công lập và ngoài công lập; đầu tư hạ tầng thử nghiệm, trình diễn công nghệ; chuẩn hóa dữ liệu cung – cầu và đổi mới cách đánh giá hiệu quả hoạt động theo kết quả ứng dụng thực tế.

PGS.TS. Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội phát biểu tại hội thảo.
PGS.TS. Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội phát biểu tại hội thảo.

Ở góc độ liên kết viện trường – doanh nghiệp, PGS.TS. Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng không có một mô hình liên kết “ba nhà” duy nhất phù hợp với mọi loại công nghệ và mọi giai đoạn phát triển.

Thay vào đó, cần đa dạng hóa phương thức hợp tác, từ đặt hàng nghiên cứu, đồng nghiên cứu và đầu tư, chuyển giao hoặc cấp quyền sử dụng công nghệ đến hình thành doanh nghiệp spin-off, phòng thí nghiệm hợp tác và không gian thử nghiệm. Việc lựa chọn mô hình cần căn cứ vào đặc điểm công nghệ, mức độ hoàn thiện, nguồn lực và nhu cầu của các bên.

Liên kết cũng không nên dừng ở ba chủ thể Nhà nước – viện trường – doanh nghiệp, mà cần mở rộng tới nhà khoa học, người học, nhà đầu tư, tổ chức trung gian, khách hàng và cộng đồng. Đặc biệt, quá trình thương mại hóa cần được hỗ trợ xuyên suốt, từ chứng minh tính khả thi, phát triển nguyên mẫu, thử nghiệm, kiểm định đến tiếp cận thị trường.

Bên cạnh các tham luận, phần kết nối cung – cầu công nghệ giới thiệu công nghệ sản xuất nước nanocellulose của Công ty cổ phần Công nghệ Mới Nhật Hải (OIC New). NSC.TS Lưu Hải Minh, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty, giới thiệu hướng ứng dụng vật liệu nanocellulose trong lọc bụi PM2.5 và xử lý nước biển, nước lợ.

Theo đó, màng nanocellulose sinh học được phát triển phối hợp với Đại học Bách khoa Hà Nội, sử dụng nguồn nguyên liệu gốc thực vật như gỗ và phụ phẩm nông nghiệp. Với cấu trúc sợi ở kích thước nano, vật liệu được định hướng ứng dụng trong các giải pháp lọc không khí và nước. Những giới thiệu này cho thấy tiềm năng kết nối giữa nghiên cứu vật liệu mới với các nhu cầu thực tiễn về môi trường, nước sạch; đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục thử nghiệm, đánh giá hiệu quả và xác định điều kiện ứng dụng cụ thể.

Bài toán thương mại hóa không chỉ nằm ở chất lượng nghiên cứu. Để công nghệ đi vào sản xuất, cần đồng thời hoàn thiện cơ chế, tăng năng lực tổ chức trung gian, thúc đẩy doanh nghiệp tham gia từ khâu đặt hàng và tạo ra các mô hình hợp tác phù hợp. Khi các mắt xích này được kết nối, kết quả nghiên cứu mới có thêm cơ hội chuyển thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế - xã hội.

Thu Hương