Thứ trưởng Bộ Tư pháp: Luật Thủ đô tạo không gian tự chủ tối đa để Hà Nội kiến tạo, phát triển
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh cho biết: Luật Thủ đô 2026 gồm 9 Chương, 36 Điều, tập trung phân quyền cho Thành phố quyết định, tạo không gian tối đa cho sự sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của chính quyền Thủ đô.
Chiều 13/5/2026, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 9 luật vừa được Quốc hội khoá XVI thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, trong đó có Luật Thủ đô 2026.

Gắn phân quyền với kiểm soát quyền lực
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh thông tin tại buổi họp báo cho biết: liên quan đến một số nội dung mới tại Luật Thủ đô 2026 cho biết, Luật gồm 9 Chương, 36 Điều, tập trung phân quyền cho Thành phố quyết định, tạo không gian tối đa cho sự sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của chính quyền Thủ đô; đồng thời tăng cường yêu cầu về kiểm soát quyền lực, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.
Luật sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số quy định tại Luật Thủ đô 2024 như khẳng định địa vị pháp lý đặc thù của Thủ đô; giá trị pháp lý đặc thù, được ưu tiên áp dụng tại Thủ đô của Luật Thủ đô; giải thích các thuật ngữ bảo đảm rõ ràng, áp dụng thống nhất, trong đó có các thuật ngữ mới như “không gian tầm thấp”, “không gian tầm cao”;
Quy định về nguyên tắc áp dụng Luật Thủ đô; giao HĐND TP có thẩm quyền quyết định việc áp dụng trong trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành sau ngày Luật Thủ đô có hiệu lực thi hành có quy định cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn; sửa đổi các quy định để bảo đảm Luật chỉ quy định những vấn đề có tính nguyên tắc.

Luật sửa đổi các quy định theo hướng phân quyền triệt để, toàn diện cho chính quyền Thành phố được quy định, quyết định những nội dung thuộc thẩm quyền trong các lĩnh vực nhằm tăng tính chủ động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền Thành phố như: tổ chức, bộ máy; thu, chi ngân sách, đặc biệt là các quy định tạo điều kiện thu hút nguồn lực cho Thủ đô phát triển;
Thực hiện quy hoạch, chỉnh trang, tái thiết đô thị; quản lý, sử dụng tài nguyên; ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo; phát triển, liên kết vùng Thủ đô; phát triển y tế, văn hóa; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, trong đó có việc áp dụng biện pháp hành chính cấp bách phù hợp với vị trí, vai trò của Thủ đô.
Luật bổ sung quy định về nguyên tắc phân quyền (Điều 4) nhằm bảo đảm việc phân quyền được thống nhất, thông suốt và hiệu quả; gắn phân quyền với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình; bảo đảm an ninh, quốc phòng, kinh tế và phát triển bền vững, bảo vệ quyền con người và bản sắc văn hóa.
Hà Nội được ban hành VBQPPL quy định biện pháp đặc thù
Đáng chú ý, Luật Thủ đô bổ sung quy định về thẩm quyền xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Điều 8) của chính quyền thành phố Hà Nội.
Theo đó, HĐND và UBND thành phố được ban hành văn bản để điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính đã được quy định tại văn bản của cơ quan cấp trên nhằm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, bảo đảm yêu cầu cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, không làm phát sinh thêm thành phần hồ sơ, điều kiện, yêu cầu hoặc kéo dài thời gian giải quyết thủ tục hành chính;
Đồng thời, thành phố Hà Nội được ban hành VBQPPL quy định biện pháp đặc thù để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội khác hoặc chưa có quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ.
Việc ban hành các văn bản này phải tuân thủ trình tự, thủ tục chặt chẽ; đồng thời bảo đảm cơ chế kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình theo quy định.
Tại buổi họp báo, ông Cấn Đình Tài - Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước đã công bố Lệnh của Chủ tịch nước về 9 luật đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất. Theo đó, các luật được công bố bao gồm:
1. Luật Tiếp cận thông tin;
2. Luật Thủ đô;
3. Luật Hộ tịch;
4. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng;
5. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý;
6. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng;
7. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo;
8. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cơ quan đại diện nước CHXHCN Việt Nam ở nước ngoài;
9. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt.