Báo Đại Đoàn Kết Tinh hoa Việt

Thương những mùa xa

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Thương những mùa xa

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Người dân quê tôi không ai là không biết đến chợ Chờ, không mấy người chưa được đi chợ Chờ. Bạn bè, người quen ở xa thì cứ ước ao, mong một lần đến chợ, bởi nghe cái tên đã thấy nôn nao, đã gieo vào lòng bao mong ngóng.

Ảnh: Lê Hoàng Long.
Ảnh: Lê Hoàng Long.

“Chợ Chờ em vẫn chờ ai, để bâng khuâng câu hát tháng năm dài anh đi”- lời bài hát của nhạc sĩ Huy Du cứ ngân nga bên tai khi đặt chân đến đất Yên Phong, xui lữ khách rảo bước tìm về nơi tụ hội.

Vẫn biết, nguồn gốc của tên thị trấn, tên chợ không phát tích từ sự đợi chờ, ngóng trông của đôi lứa (như người ta mường tượng) mà chỉ là hoạt động tụ tập, chờ nhau để đảm bảo an toàn khi nơi đó xưa kia nhiều nguy cơ cướp bóc. Nhưng kệ, thời gian, năm tháng đã phủ một lớp màu huyền thoại. Nơi này giờ đây trở thành mảnh đất yên bình, trù phú. Và cái tên lưu dấu như một niềm thơ.

Vẫn nhớ lần đầu tiên tôi đến chợ. Là dịp gần 20/11 năm lớp 5. Nhóm cán sự lớp quyết định mua một món quà đặc biệt tặng cô giáo, sẽ không phải là quyển sổ, cái bút đỏ hay bộ ấm chén thường tình. Có tiền quỹ trong tay, tất cả quyết định ra chợ Chờ. Nhưng chợ cách tầm 5 cây số, ai đưa đi và mua bán thế nào? Rất nhanh chóng, kế hoạch được duyệt, là đi bộ và tự mua.

Con đường đất đỏ buổi sáng men theo hàng cây bạch đàn xanh mát đã đưa 5 đứa trẻ háo hức ra đến chợ trung tâm huyện thật suôn sẻ. Tiếng chim và hương hoa dại giấu trong vạt áo theo vào những cầu chợ ắp đầy hàng hóa. Sao hình dung lần đó giống cảnh mấy đứa trẻ miền núi trèo đèo, lội suối từ tinh mơ đi chợ phiên đến vậy. Vì khi đến nơi, sự ngơ ngác, choáng ngợp dâng đầy trong mắt đã khiến các bà, các cô trong chợ chú ý, thú vị. Kết quả là, một mảnh vải màu mỡ gà đã được theo về trên con đường cũ. Nhưng số tiền mua mảnh vải cũng vừa vặn hết số tiền quỹ mang theo. Lướt qua những hàng nước, hàng chè, hàng dừa... trong cái nắng cuối thu quả là điều không dễ dàng. Vẫn con đường buổi sáng mà chẳng thấy thi vị, chỉ thấy một hành trình nặng nề chờ đợi. Với những cái bụng rỗng, những cái cổ khát khô và những đôi chân mỏi mệt. Việc cầm cái túi đựng mảnh vải cũng trở thành đề tài bì tị. Chuyến đi ấy còn để lại dư âm là sự ngỡ ngàng, vừa thương, vừa giận của bố mẹ và cô giáo. Nhưng với chúng tôi, khi cơn mỏi đã lùi xa, nhớ lại chuyến đi như nhớ một cuộc phiêu lưu nho nhỏ mà lí thú. Và hẹn nhau, khi nào có dịp, nhất định sẽ cùng quay lại chợ Chờ. Và khi đó, chắc chắn sẽ mang theo nhiều tiền hơn để còn khám phá bao điều chưa kịp, ở cái chợ to nhất huyện.

Thế rồi chẳng phải đợi lâu, năm sau tôi ra trường chuyên của huyện học. Tuần mấy buổi học cả ngày. Trừ các bạn ở thị trấn, còn lại các bạn ở xã ngoài buổi trưa đều ở lại và ra chợ ăn cơm. Bốn năm cấp 2, với rất nhiều buổi trưa như thế, chợ Chờ quen thuộc hơn cả chợ làng. Và những người bán hàng đã thân thiết tự bao giờ chẳng rõ.

Trong chợ chia ra từng khu rất quy củ. Từ cổng chính đi vào là hàng hoa, hàng sách cũ rồi đến hàng thủy tinh, gốm sữ, mũ, nón, hàng nhôm, hàng nhựa. Rẽ sang phải là hai dãy hàng chiếu, võng, chổi; sâu hơn là khu thực phẩm thịt, cá, rau củ quả. Rẽ sang trái là cả khu quần áo, trang phục với la liệt các gian hàng. Trung tâm chợ là khu hàng ăn lúc nào cũng ngào ngạt các thứ mùi hấp dẫn. Với những vồng khói lò phơ phất, tiếng xì xèo rán nấu hay tiếng ca cốc, bát đũa lách cách. Đó cũng là nơi quen thuộc hạ cánh của chúng tôi mỗi buổi trưa. Và không hiểu sao, dù có rất nhiều hàng cơm và hàng chè, nước nhưng lũ học trò lại trung thành với hàng cơm cô Lý và chè cô Hồng. Các cô cũng thuộc từng sở thích, thói quen, những câu trêu đùa, thậm chí cả lịch học, lịch thi học sinh giỏi của chúng tôi. Còn nhớ, mỗi suất cơm ngày đó thường là 500 cơm, năm trăm thịt luộc hoặc thịt băm. Nước canh miễn phí. Nhưng cô Lý thường xới bát cơm khá đầy đặn và gắp thêm mấy miếng thịt vào bát của mấy đứa học trò. Ăn cơm xong sang hàng cô Hồng gọi chè. Cốc chè 500 thôi mà hôm nào cũng phải cân nhắc xem ăn gì: đậu đen, đậu xanh, ngô hay thập cẩm. Cô Hồng cũng luôn xởi lởi thêm thứ nọ, thứ kia vào cốc từng đứa; đá, dừa khô thì thoải mái.

Lũ học trò trường chuyên chúng tôi ngày đó có lẽ là những khách hàng đặc biệt nhất của khu hàng ăn buổi trưa. (Vì sau này các thế hệ sau đã được ăn bán trú ở trường). Có những hôm ăn xong trời mưa to chưa về ngay được vì nước ngập, lại ngồi nói chuyện ríu ran rồi ngó ra khu hàng dày dép, hàng xén mà xuýt xoa. Dù rất thích, hiếm khi chúng tôi qua đó chọn mua gì, tuy những đồ xinh xinh như buộc tóc, bờm, hoa tai... không đắt lắm. Nhưng có mấy đồng, hầu như đứa nào đứa nấy đều thuê hay mua sách nhà bác Sửu cổng trường hết rồi. Chúng tôi ngày đó vô sản và giản đơn lắm. Cũng như khi ra về, qua cổng phụ, la liệt hàng hoa quả cũng ngoảnh mặt làm ngơ.

Các cô hay dặn, tập trung học hành cho tấn tới, sau này thành đạt về qua chợ, tha hồ mua sắm. Rồi lại rẽ vào đây ăn uống nhé. Các cô coi chúng tôi như con cháu trong nhà. Vẫn thường nhắc nhở, dạy bảo điều nọ, điều kia. Nhiều khi cũng nắc nỏm, xuýt xoa: bố mẹ chúng mày thật mát mặt vì con cái vừa giỏi vừa ngoan.

Nhưng không chỉ ra chợ Chờ những buổi trưa ăn cơm như thế. Chúng tôi còn lượn lờ khu chợ ấy bao dịp khác trong năm. Mỗi đợt mua sắm đồ cho lớp, quà cho thầy cô hay đơn giản là ngó không khí những thời điểm đặc biệt. Dịp Trung thu, chợ ngồn ngộn sắc màu, hàng hóa giăng ngập mắt. Những chiếc đèn lồng, trống ếch, mặt nạ lủng lẳng ven lối đi, va cả vào mặt khách. Quầy bán thuốc lào thì lố nhố các bà ngồi xem, bàn luận và thử thuốc. Tết về, tất cả các ngả đường bao quanh chợ nườm nượp người; bên trong, các lối đi đều ken đặc. Khi đó, vào chợ đúng là chợ... Chờ. Cảm tưởng người dân cả huyện đổ về biến chợ thành một biển người rộn ràng, náo nức. Có cậu bạn du học rồi định cư bên Pháp, có năm gần Tết nhắn trên Facebook, bảo mọi người gửi cho chút không khí chuẩn bị Tết ở quê nhà. Một bạn nhanh nhảu gửi luôn mấy bức ảnh cập nhật cảnh chợ Chờ vào 27 tháng Chạp mà ai nấy đều tâm đắc.

Nhưng cũng có những buổi, vào chợ mà thấy thênh thang, rộng rãi. Đó là khi chiều muộn, chợ đã tàn. Chúng tôi qua chơi nhà hai cô bạn trong lớp, nhà Phương ngay đầu cổng phụ, nhà Hằng nằm ngay trong chợ. Tự nhiên như thấy một gương mặt khác, không khí khác của chợ. Và bỗng ngạc nhiên, khi thấy vẻ tiêu điều của những gian hàng vắng; thấy xao xác, se lòng khi ngó những đống rác nằm chơ vơ dọc các lối đi. Sự ồn ào tấp nập nấp đâu đó trong những cái cột xiêu vẹo, những cái bàn, ghế chông chênh, ngơ ngác. Cũng chợt nhận ra ngôi chợ đã già. Không hiểu, chợ đã bao nhiêu tuổi?

Và đến ngày, người ta làm một cuộc cải tạo lớn, giải tỏa, quy hoạch và sửa sang lại chợ. Trong thời gian đợi, chợ di chuyển tạm về khu sân vận động. Nhưng không biết bao lần, tôi cứ đi nhầm ra chợ cũ. Đến khi chỉ thấy hàng chữ “Chợ Chờ” trầm mặc trên nóc cổng ngó nhìn mới vội quay xe. Sửa chợ nhưng người ta giữ nguyên cái cổng, như muốn níu lại cái hồn, cái cốt chợ xưa.

Giờ thì chợ Chờ đã mở rộng, khang trang và hiện đại lắm rồi, cùng với sự thức dậy của mảnh đất “im gió”.

Một lần, có việc ghé qua, ngang khu hàng ăn, đang đông đúc nên chú tâm di chuyển, bỗng nghe ai gọi tên. Ngoảnh lại, là cô Hồng, cô vẫn bán chè nơi vị trí cũ nhưng gian hàng thì mới. Bất ngờ vì cô vẫn nhận ra dù đã từng ấy năm, lại đeo khẩu trang kín mít. Cô cười, mấy đứa chúng mày cô làm sao quên được. Tự nhiên thấy rưng rưng! Không kịp ngồi ăn lại cốc chè nhưng chắc một điều, vị chè của cô vẫn ngọt ngào như những tháng năm xưa.

Cô Lý không bán hàng cơm nữa, và bây giờ cũng không còn suất cơm 1.000 đồng nhưng đi ngang chỗ ấy như còn thoảng mùi hành hoa trong bát canh cô múc cho mỗi đứa năm nào.

Chợ Chờ rồi lâu lắm không qua nhưng có những góc thân thương, có những con người ân nghĩa vẫn lặng thầm nơi đó. Đợi bước chân tôi về, tìm lại những mùa xa!

NHẤT MẠT HƯƠNG