Tiêu chuẩn bền vững trở thành điều kiện tiếp cận thị trường
Ở góc độ doanh nghiệp, tiêu chuẩn bền vững trước hết tạo ra áp lực tuân thủ. Tuy nhiên, nếu chuyển đổi sớm, đây đồng thời là cơ hội để doanh nghiệp vượt qua hàng rào kỹ thuật và tiếp cận những phân khúc thị trường có giá trị cao hơn.

Quyết định số 889/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021 - 2030 xác định, định hướng thúc đẩy quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên, nhiên liệu, nguyên vật liệu; khuyến khích phát triển các sản phẩm thân thiện với môi trường, có khả năng tái sử dụng, tái chế; thúc đẩy sản xuất sạch hơn, kinh tế tuần hoàn và hình thành thói quen tiêu dùng bền vững.
Đáng chú ý nếu trước đây, những yêu cầu này chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ bảo vệ môi trường và sử dụng hiệu quả tài nguyên, thì trong bối cảnh hiện nay, sản xuất và tiêu dùng bền vững ngày càng gắn chặt với năng lực cạnh tranh và khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp.
Điều này thể hiện rõ trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam tham gia. Bên cạnh những cam kết truyền thống về thương mại hàng hóa, thuế quan, xuất xứ, dịch vụ, đầu tư hay sở hữu trí tuệ, các FTA thế hệ mới còn mở rộng sang các vấn đề về môi trường, lao động, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, thương mại điện tử, mua sắm công, doanh nghiệp nhỏ và vừa, minh bạch và chống tham nhũng.
Đáng chú ý, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đặt ra nguyên tắc không hạ thấp tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn lao động vì mục tiêu thương mại; đồng thời thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Vương quốc Anh và Bắc Ailen (UKVFTA) cũng dành riêng nội dung về thương mại và phát triển bền vững, khuyến khích nâng cao mức độ bảo vệ môi trường, lao động cũng như thúc đẩy thương mại các sản phẩm, công nghệ thân thiện với môi trường.
Ở góc độ doanh nghiệp, tiêu chuẩn bền vững trước hết tạo ra áp lực tuân thủ. Tuy nhiên, nếu chuyển đổi sớm, đây đồng thời là cơ hội để doanh nghiệp vượt qua hàng rào kỹ thuật và tiếp cận những phân khúc thị trường có giá trị cao hơn.
TS. Nguyễn Thị Thu Trang, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), nguyên Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập - VCCI phân tích, cơ hội đầu tiên chính là khả năng tận dụng tốt hơn ưu đãi từ các FTA. Bởi ưu đãi thuế quan chỉ phát huy ý nghĩa khi hàng hóa đáp ứng được các quy định của nước nhập khẩu, bao gồm cả tiêu chuẩn bắt buộc đối với sản phẩm và yêu cầu đối với chuỗi cung ứng.
Cơ hội thứ hai đến từ sự thay đổi của người tiêu dùng. Tại nhiều thị trường FTA, nhóm khách hàng quan tâm đến phát triển bền vững đang thúc đẩy nhu cầu đối với sản phẩm thân thiện với tự nhiên, tốt cho sức khỏe; sản phẩm không gắn với lao động cưỡng bức, lao động trẻ em hay phân biệt đối xử; đồng thời ưu tiên những doanh nghiệp minh bạch và có trách nhiệm xã hội.
Xu hướng này cho thấy thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững có thể giúp doanh nghiệp Việt Nam không chỉ “đáp ứng tiêu chuẩn” mà còn tạo thêm giá trị cho sản phẩm, nâng uy tín với nhà nhập khẩu và gia tăng cơ hội nhận đơn hàng từ các tập đoàn, chuỗi phân phối quốc tế.
Đây cũng là điểm giao thoa rõ nét giữa yêu cầu của thị trường quốc tế với định hướng đặt ra tại Quyết định 889/QĐ-TTg. Khi doanh nghiệp chuyển từ mô hình sản xuất tiêu tốn nhiều tài nguyên sang sử dụng hiệu quả nguyên, nhiên vật liệu; phát triển sản phẩm thân thiện môi trường; tăng cường tái sử dụng, tái chế và áp dụng các mô hình sản xuất bền vững, quá trình này đồng thời giúp doanh nghiệp chuẩn bị tốt hơn cho những tiêu chuẩn ngày càng cao tại các thị trường xuất khẩu.