‘Tình sử’ Tương Giang
Một ngày thong thả, chúng tôi về phường Tam Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Từ quốc lộ 1, chỗ cách trung tâm thành phố Từ Sơn cũ về phía bắc chừng 2 cây số thì rẽ trái. Đi thêm độ 1 cây số nữa thì lại rẽ trái rồi theo con đường gắn biển “Đường Tiêu Tương”, đi thêm gần cây số nữa là tới chân núi Tiêu.

Dừng chân ghé vào một quán nước bên đường, tôi thật thà hỏi bà chủ quán: “Đường Tiêu Tương có nghĩa là gì?”. Bà chủ quán vừa đon đả mời uống nước vừa trả lời: “Thì Tiêu Tương có nghĩa là núi Tiêu sông Tương thôi”. Rồi bà ngước mắt nhìn ngọn núi thấp trước mặt: “Đấy là núi Tiêu. Còn đây là – Bà chủ quán quay lưng chỉ hồ nước nhỏ sau quán – là sông Tương đấy”. Tôi thoáng ngạc nhiên: “Sông Tương đây á?”. Bà chủ quán không trả lời mà đọc thơ: “Sông Tương vùi lấp bao đời/ Mạch nguồn vẫn vọng những lời tình xưa/ Ngàn năm chìm nổi nắng mưa/ Mà nay vẫn tưởng như vừa đây thôi”.
Thấy tôi vẫn vẻ ngạc nhiên bà chủ quán liền bảo: “Chắc bác có biết đến câu này: “Ngày xưa có anh Trương Chi/ Người thì thật xấu hát thì thật hay”. Nghe đến đấy thì tôi vội gật đầu, ai mà còn lạ gì câu chuyện cổ tích “Tiếng hát Trương Chi” nữa.
Bà chủ quán cười bảo: “Theo như các cụ làng tôi truyền khẩu lại thì sông Tương ngày xưa dài những 18 cây số kia. Sông bắt nguồn từ đầm lớn ở mạn Đông Ngàn, nay chắc là vùng Yên Viên, Yên Thường của huyện Gia Lâm (cũ), Hà Nội. Sông ấy chảy ngoằn nghèo từ phía tây sang phía bắc, chảy qua huyện Từ Sơn (cũ) cho đến huyện Tiên Du (cũ), tỉnh bắc Ninh. Sông xưa là vậy nay dấu tích chỉ còn lại là hồ nước này ở dưới chân núi Tiêu mà thôi”.
Tôi nhìn ra hồ nước, giữa hồ có một lầu nhỏ hình lục giác, mái lợp ngói đỏ, các cột lầu dều được sơn mầu đỏ. Lầu được nối với đường Tiêu Tương nhờ một cây cầu gỗ, dáng cong cong, cũng được sơn mầu đỏ, nhìn rất tiêu giao. Bà chủ quán bảo: “Đó là Lầu Quan Âm”.
Không biết sông Tương ngày xưa dài rộng thế nào chứ theo tích cũ thì xưa sông này khá thơ mộng vì nó chảy qua những cánh đồng lúa xanh rờn, chảy men những ngọn núi thấp. Đồn rằng, thuở ấy sông rất lắm tôm cá. Chả thế mà truyền khẩu kể lại ở vùng này, như lời bà chủ quán cho hay, thì đó chính là khu vực hồ nước hiện nay, có một chàng trai nghèo tên là Trương Chi. Chẳng ai rõ chàng trai Trương Chi ấy quê ở xóm nào, thôn nào, nhưng chỉ nghe nói: Chàng Trương Chi ngày ngày bơi thuyền trên sông Tương đánh bắt tôm cá. Điều đặc biệt là chàng Trương Chi vừa đen lại vừa xấu nhưng có lẽ ông trời thương nên ban cho chàng một giọng hát rất hay cùng tài thổi sáo vô cùng thánh thót.
Chàng Trương Chi chắc là vì nghèo lại xấu trai nên không có vợ, chàng sống một thân một mình lấy còn thuyền nhỏ làm nhà, lấy chuyện đánh bất tôm cá để mưu sinh. Và đem tiếng hát, tiếng sáo của mình cho lòng khuây khỏa.
Câu chuyện của bà chủ quán đã gợi nhớ trong tôi bài hát “Trương Chi” của nhạc sĩ Văn Cao, tôi hát mấy câu như để bà chủ quán có hứng mà kể thêm chuyện: “Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ. Trầm trầm không gian mới rung thành tơ. Vương vất heo may hoa yến mong chờ. Ôi tiếng cầm ca thu tới bao giờ”.
Bà chủ quán vui hẳn lên, kể tiếp: “Rồi có một ngày, khi ấy có vị quan Thừa tướng về nơi này xây dựng ngôi lầu trên lưng chừng núi để hưởng trăng thanh gió mát”. Bà chủ quán nhìn thẳng vào tôi nói như chắc chắn: “Ngôi lầu nhà quan Thừa tướng ở lưng chừng núi Tiêu này bác ạ”. (Nghe nói vậy tôi đâm ngờ ngợ vì chẳng biết vị quan Thừa tướng kia tên là gì và ở triều đại nào. Câu chuyện truyền khẩu chắc là để “thi vị hóa” vùng đất này mà thôi?)
Quan Thừa tướng có cô con gái vừa tuổi cập kê tên là Mỵ Nương. Nàng Mỵ Nương vô cùng xinh đẹp, ban đêm nàng thường ra lầu ngắm trăng thưởng hoa. Một đêm không trăng sao, khi nàng Mỵ Nương đến lầu ngồi buồn thì từ dưới sông vọng lên tiếng sáo réo rắt, vọng lên tiếng hát mê hồn của một người con trai nào đó. Tiếng sáo cùng tiếng hát của chàng trai không rõ mặt đã len sâu vào tâm hồn nàng Mỵ Nương, khiến nàng ngơ ngẩn.
Tôi lại khẽ hát: “Lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang. Chập chùng đêm khuya tiếng ai phòng loan. Một cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng. Đây đó từng song he hé đợi đàn”.
Bà chủ quán bảo: “Thế là từ đó khi màn đêm buông xuống là nàng Mỵ Nương lại ra lầu ngồi, nàng chờ tiếng sáo tiếng hát của chàng trai xa lạ cất lên”. Thì ra tiếng sáo cùng tiếng hát tưởng chừng xa lạ đã thực sự mê hoặc trái tim thiếu nữ của nàng Mỵ Nương. Nàng đã thầm yêu chàng trai chưa biết mặt đó. Bỗng có thời gian dài nàng không nghe thấy tiếng sáo và vì quá thương nhớ tiếng sáo mà nàng trở nên sầu não, ngày đêm bồn chồn đợi tiếng sáo trên khúc sông mà vẫn vắng lặng. Nàng bắt đầu lâm bệnh.
Cha nàng lo lắng mời rất nhiều thầy thuốc đến xem mạch bốc thốc. Thuốc đã nhiều nhưng bệnh Mỵ Nương không chuyển. Dần dà, cha nàng dò hỏi người hầu hạ Mỵ Nương vô tình biết được tiếng sáo trên sông làm con gái mình sinh bệnh tương tư. Ông liền sai người hầu đi tìm người thổi sáo bên sông.
Quan Thừa tường liền cho mời chàng thổi sáo tới Phủ Thừa tướng. Nhưng khi nhìn thấy tướng mạo của chàng Thừa tướng thấy vô cùng xấu xí bèn bảo chàng Trương Chi hàng ngày tới Phủ thổi sáo đứng bên ngoài sân mà thổi sáo vọng vào trong phòng Mỵ Nương.
Mỵ Nương nghe thấy tiếng sáo quen thuộc khi xưa thì bệnh tình thuyên giảm rất nhanh. Nàng xin cha cho được gặp mặt người thổi sáo tài tình này để được cảm ơn. Sau nhiều lần trì hoãn, không ngăn được, bất đắc dĩ cha nàng phải cho dẫn Trương Chi vào gặp Mỵ Nương. Thấy dung mạo thật của Trương Chi, nàng Mỵ Nương như vỡ mộng và tỏ ý lạnh nhạt. Từ đó không còn si mê tiếng sáo của chàng.
Còn Trương Chi từ hôm gặp nàng về thì lại sinh nỗi tương tư, chàng đã thầm yêu Mỵ Nương. Một hôm chàng tự tìm đến nhà Mỵ Nương để thổ lộ nỗi lòng của mình. Nhưng nàng từ chối, chàng Trương Chi thất vọng và đau buồn cho thân hính xấu xí và thân phận nghèo của mình. Chàng mang mối tình hận, không không thiết làm ăn gì nữa, sầu héo dần mà chết.
Bà chủ quán đưa cho tôi cốc nước trà đá rồi kể: “Một dạo sau không còn nghe thấy tiếng sáo trên sông nữa, Mỵ Nương lại nhớ tiếng sáo và dò hỏi ra mới biết Trương Chi đã chết. Nàng sai người đắp cho chàng một nấm mồ cao. Nhưng lạ thay khi đào mộ lên thịt xương chàng đã tan hết, người đào mộ chỉ thấy một khối đá to như ngọc bằng nắm đấm trong suốt sáng long lanh. Nàng giữ khối ngọc và nhờ thợ ngọc làm thành chiếc chén ngọc để uống trà.
Mỵ Nương rất thích cái chén ngọc này. Một hôm, nàng cầm chén rót trà, thì lạ thay hình ảnh Trương Chi trên thuyền thổi sáo hiện lên, chầm chậm xoay trong lòng chén và tức thì tiếng sao năm xưa văng vẳng như than, như trách. Mỵ Nương chạnh lòng nhớ lại mối tình đã qua. Một giọt nước mắt của nàng rơi vào chén ngọc và chiếc chén tan ra thành nước”.
Tuy câu chuyện tình yêu giữa nàng Mỵ Nương con quan Thừa tướng với chàng Trương Chi nghèo xấu mà có giọng hát hay chỉ là truyền khẩu nhưng đã cho thấy một nội dung khác. Và Tiêu Tương là một dòng sông tràn đầy yếu tố văn hóa, là dòng chảy của thi ca, của tình yêu con người, tình yêu đôi lứa và là nguồn cảm hứng vô tận của các văn nhân, thi sĩ đã sáng tạo ra những giá trị nhân văn qua nhiều thời đại.
Sức sống của truyện cổ tích “Trương Chi” cũng đã vượt ra ngoài phạm vi của một tác phẩm văn học dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa của người dân xứ Bắc như một biểu tượng đẹp đẽ và thiêng liêng. Trong dân ca Quan họ có câu diễn ca: “Trương Chi có chiếc thuyền chài/ Chèo thuyền ngang dọc hôm mai dãi dầu/ Trương Chi mói hát một câu/ Gió đưa phảng phất tới lầu Mị Nương/ Mỵ Nương nghe hát thì thương/ Nhưng trông thấy mặt anh chường lại chê/ Trương Chi buồn bã ra về/ Cắm sào giữa bến hát thề một câu/ Kiếp này đã dỏ dang nhau/ Có sang kiếp khác lấy nhau cũng không thành.