Báo Đại Đoàn Kết Góc nhìn Đại Đoàn Kết

Tôn giáo và Tổ quốc

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Tôn giáo và Tổ quốc

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Nhân dịp Kỳ họp thứ 10 - Quốc hội Khóa XIII khai mạc, nhà báo Thái Duy  gửi tới Báo Đại Đoàn kết bức tâm thư gửi các đại biểu Quốc hội tham dự kỳ họp lần này. ĐĐK giới thiệu cùng bạn đọc những lời tâm huyết của một cán bộ lão thành.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại tháng 11/1940, Đảng chịu tổn thất hết sức nặng nề. Xứ ủy Nam Kỳ bị địch bắt, không một tỉnh, thành ủy nào ở Nam Kỳ còn nguyên vẹn. Đảng bộ Nam Bộ bị xóa sổ. Không chịu dừng lại ở đó, địch tập trung cảnh sát, mật thám, kể cả quân đội, đánh phá dữ dội các cơ sở Đảng ở Trung ương (ngoài Bắc). Trong lãnh đạo, có người đề nghị phải chuyển An toàn khu (ATK) của Thường vụ Trung ương đang đóng tại Đình Bảng, huyện Thuận Thành Bắc Ninh, cách Hà Nội 15 cây số, lên miền núi để địch khó phát hiện.

Căn cứ của Trung ương phải gần Hà Nội, nơi đầu não của đế quốc, lại có báo chí hàng ngày thông tin dồi dào nhất giúp Thường vụ Trung ương nắm tình hình địch và ta nhậy bén nhất, gần luồng giao thông chính để cán bộ Bắc Nam tiện đi về. ATK Đình Bảng đã được xây dựng hơn hai năm, các cơ sở Đảng trong dân rất được tin cậy, chưa có tín hiệu nào dù nhỏ nhất tỏ ra địch đã “đánh hơi”. Đặc biệt Đình Bảng có một số chùa như chùa Đồng Kỵ, chùa Đồng Hương, chùa Lã, chùa Dận, chùa Lành với kiến trúc cổ, kỳ thú thờ Lý Bát Đế (tám vị vua đời nhà Lý từ năm 1010 đến 1225).

Trải qua bao đời, mỗi năm tám kỳ giỗ, mỗi kỳ giỗ lại là dịp nhớ đến tổ tiên, ông cha, là dịp giáo dục lòng yêu Tổ quốc. Các chùa thờ Lý Bát Đế đều là cơ sở chí cốt của Đảng, các sư vãi đều có cảm tình với cách mạng. Chùa Đồng Kỵ là chùa gốc có sư cụ Phạm Thông Hòa trông nom chung các chùa. Lãnh đạo Đảng họp Trung ương , họp xứ ủy hoặc một số cuộc họp quan trọng khác ở chùa nào, sư cụ Phạm Thông Hòa cũng trực tiếp chịu trách nhiệm cùng các sư bảo vệ.

Sau Hội nghị Trung ương lần thứ tám thành lập Mặt trận Việt Minh, đồng chí Trường Chinh được Hội nghị bầu là Tổng Bí thư thay đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, bị địch bắt tại cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ và bị kết án tử hình. Địch đã in ảnh đồng chí Trường Chinh, tán phát khắp nơi và sẵn sàng thưởng tiền rất lớn cho ai báo cho nhà cầm quyền bắt được Tổng Bí thư. Hoạt động của Tổng Bí thư rất khó khăn, đồn bốt của địch dầy đặc nhưng dựa vào dân, Tổng Bí thư vẫn đến được những nơi cần phải đến.

Kể cả khi địch tung quân kiểm tra hết sức gắt gao mọi ngả đường, Tổng Bí thư vẫn vượt qua mọi soi mói của địch. Lúc này đồng chí Trường Chinh mới ngoài 35 tuổi, đồng chí đóng vai sư bác cắp tráp đi theo sư cụ Phạm Thông Hòa về Hà Nội, chẳng có địch nào có thể tin sư cụ Phạm Thông Hòa sống đã lâu năm ở Đình Bảng lại có thể là người bảo vệ lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản.

Từ năm 1941, Mặt trận Việt Minh ra đời cho đến năm 1942, 1943, 1944 rồi 1945, dù sức ép của địch khủng khiếp đến đâu, ATK cũng vẫn trụ bám tại Đình Bảng cho đến ngày Cách mạng tháng 8 thành công.

Kháng chiến toàn quốc được hơn một năm, đầu năm 1948, Đảng Cộng sản Pháp cử René L’Hermitte là đặc phái viên của báo Humanité, tiếng nói của Đảng, đến Sài Gòn tìm hiểu tại chỗ cuộc kháng chiến chống Pháp. René L’ Hermitte đã gặp ông Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn và đề nghị ông tạo điều kiện để được gặp Bí thư Xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn. Ông Mười Cúc đã cùng René’ L’ Hermitte dùng xuồng theo kênh rạch, vào Đồng Tháp Mười là nơi Xứ ủy đóng.

Từ sớm tinh mơ đến sẩm chiều mới đến xứ đạo Công giáo Nhơn Hòa Lập bên bờ kênh Dương Văn Dương. René’ L’ Hermitte vẫn tưởng xuồng chỉ nghỉ tạm rồi lại đi, vì chẳng lẽ Xứ ủy Đảng Cộng sản lại ở trong lòng một xứ đạo Công giáo. Không chỉ có Xứ ủy, Ủy ban hành chính kháng chiến Nam Bộ cùng Đài Tiếng nói Nam Bộ kháng chiến cũng đóng tại Xứ đạo Nhơn Hòa Lập. René’ L’ Hermitte không chỉ được đồng chí Lê Duẩn tiếp và cũng tại xứ đạo Nhơn hòa Lập, còn được Chủ tịch và Phó chủ tịch chính quyền Nam Bộ, hai luật sư Phạm Văn Bạch và Phạm Ngọc Thuần tiếp đón. Các sở, phòng của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ đều ở nhà giáo dân.

Đồn bốt địch ở gần Xứ đạo Nhơn Hòa Lập, đường chim bay chỉ khoảng 15km, hơn một ngày ở xứ đạo Nhơn Hòa Lập, René’ L’ Hermitte thấy cuộc sống vẫn bình thường, ai làm việc nấy, giáo dân đi làm đồng, nhà chỉ còn cán bộ.

Một số xứ đạo Công giáo như Nhơn Hòa Lập trở thành chỗ dựa tin cậy của Đảng, của Nhà nước vì ngay từ khi Nhà nước Dân chủ Cộng hòa ra đời ngày 2/9/1945, Pháp đã gây chiến ở Sài Gòn có quân đồng minh là quân Anh ủng hộ, với dã tâm bắt Việt Nam tiếp tục là nô lệ cho Pháp. Phản ứng của những người Công giáo Việt Nam rất kịp thời với toàn dân đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh.

Tổng Giám mục Nguyễn Bá Tòng cùng một số vị Giám mục Việt Nam, đại diện cho Giám mục và dân Công giáo Việt Nam, gửi Sứ Điệp đầy tình cảm cho Giáo Hoàng Piô XII, khi Pháp một lần nữa lại xâm chiếm Việt Nam, nội dung như sau:

“Đứng trước những biến cố hết sức xúc động như thế này và bản thân chúng con cảm động đến tận đáy lòng vì ý thức bổn phận thiêng liêng đối với Tổ quốc chúng con, các Giám mục người Việt Nam chúng con nài xin đức Thánh Cha, Tòa thánh Rôma, các đức Hồng Y, các đức Tổng Giám mục và toàn thể anh chị em Công giáo toàn thế giới và đặc biệt là Công giáo Pháp, hãy hỗ trợ cho việc quyết định của Tổ quốc yêu quý của chúng con” (trích trong bài “Vài suy nghĩ về sự đóng góp của đồng bào Công giáo Nam Bộ vào cuộc kháng chiến chín năm của Nguyễn Thành Vĩnh, Chủ tịch Hội Công giáo kháng chiến Nam Bộ, đăng trong tập 4, trang 307 trong sách “Mùa thu rồi, ngày hăm ba” do Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành năm 1996. Đây là tập hồi ký – ký sự - chính luận của Nam Bộ từ sau khởi nghĩa Nam Kỳ 11/1940 đến Hiệp định Genevơ 7-1954 của những cán bộ lão thành, những nhân chứng lịch sử đã cố gắng tái hiện một bức tranh toàn cảnh, chính xác, trung thực về các sự kiện trong thời kỳ đó).

Tiếp theo, bốn vị Giám mục Việt Nam lại gửi Lời kêu gọi đến những người Kitô giáo trên khắp thế giới, đặc biệt là nhân dân nước Anh mà quân đội Anh ở Nam Bộ đang giúp quân Pháp tái xâm lược Việt Nam và nhân dân nước Mỹ, quốc gia đang viện trợ vũ khí cho quân Pháp ở Việt Nam, với mong mỏi trợ giúp cho người Việt một cách “có ích lợi” để nước Việt Nam “thoát khỏi cảnh rùng rợn của chiến tranh…”

Sứ Điệp và Lời kêu gọi không có hồi âm như mong muốn, vẫn có một số “bề trên” bênh vực thực dân Pháp, kết tội giáo dân “chống Pháp là chống Chúa”, bắt phải “xưng tội”. Hai tài liệu trên đây đã tác động tích cực sâu xa đến tinh thần kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của đông đảo giáo dân và tu sĩ, chức sắc của đạo. Sau Đại thắng Mùa xuân 1975, Tổng Bí thư Lê Duẩn trở về xứ đạo Nhơn Hòa Lập thăm các gia đình giáo dân và tu sĩ, đã bảo vệ đồng chí, bảo vệ Xứ ủy và Ủy ban kháng chiến Nam bộ mấy năm đầu kháng chiến.

Thưa quý vị đại biểu,

Ngay từ những năm cách mạng còn rất non trẻ và đơn độc chống lại bộ máy thống trị ưu thế tuyệt đối về mọi mặt, khó khăn với ta ngoài sức tưởng tượng, chỉ có thể so sánh với “ngàn cân đã treo trên sợi tóc” nhưng nhân dân vẫn đứng hẳn về phía cách mạng trong đó có đông đảo tín đồ và nhiều tu sĩ, chức sắc tôn giáo.

Những người tín ngưỡng và không tín ngưỡng đều thấu hiểu bằng mọi giá phải bảo vệ đến cùng cách mạng, cụ thể là Đảng, Mặt trận và Nhà nước Dân chủ Cộng hòa, dù phải hy sinh xương máu thì mới không trở lại kiếp sống nô lệ và Tổ quốc không còn bị thực dân Pháp giầy xéo, chà đạp. Những căn cứ địa vững chắc của cách mạng lại có cả một số đền chùa, thánh thất, xứ đạo.

Những năm Đảng hoạt động bí mật và tiếp theo 30 năm kháng chiến, thông qua Mặt trận đoàn kết toàn dân, Đảng đã lãnh đạo rất sâu sát quần chúng có đạo, thường xuyên gần gũi các chức sắc tôn giáo và nhờ vậy đã huy động được cả các nơi thờ tự trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến khi tương quan lực lượng quá chênh lệch, cách mạng chống Pháp còn như trứng chọi đá. Bài học vô giá về phát huy vai trò của khối Đại đoàn kết toàn dân tộc, về “tôn giáo vận” đã có lúc bị coi nhẹ khi đất nước độc lập và thống nhất, nhất là giai đoạn trước đổi mới.

Kinh nghiệm vận động những người có đạo (chiếm khoảng một phần ba dân số cả nước) kể cả các tu sĩ, có lúc có nơi không được quan tâm như trước, thậm chí một số cán bộ còn ngại tiếp xúc, không tham gia vào các hoạt động liên quan đến tôn giáo, cho đó là của Mặt trận và của cơ quan chuyên môn. Không ngạc nhiên khi một số cơ quan, một số địa phương chưa nhìn nhận, phát huy đúng mức vai trò của các tôn giáo chân chính là nguồn sức mạnh của quốc gia như đã thể hiện rất sinh động, cụ thể trong Cách mạng tháng Tám và suốt cuộc kháng chiến 30 năm.

Theo kế hoạch, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo sẽ được quý vị đại biểu, được Quốc hội thông qua vào kỳ họp cuối năm 2016. Rất mong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo sẽ đánh giá vai trò của các tôn giáo trong xã hội một cách tích cực hơn. Cần sớm phát triển tư duy lý luận về tôn giáo và công tác tôn giáo nhằm khắc phục những thành kiến, mặc cảm và nhận thức giản đơn, giáo điều về tôn giáo trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, trên cơ sở đó xây dựng hệ thống chính sách pháp luật về tôn giáo, công tác tôn giáo phải đảm bảo phát huy được vai trò, các nguồn lực và sức mạnh mềm của tín ngưỡng, tôn giáo để đoàn kết, khoan dung trong xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cần ưu tiên lấy các xu thế tích cực, tiến bộ trong tôn giáo để khắc phục hạn chế và đẩy lùi tư tưởng tôn giáo cực đoan hoặc lợi dụng tôn giáo vào các hoạt động khủng bố, chiến tranh và bạo lực như trong góp ý vào Dự thảo Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng XII được đăng trên báo ĐĐK.

Truyền thống bất khuất chống bè lũ ngoại xâm từ bao đời của các tôn giáo cần được giữ gìn, trân trọng, để rơi vào quên lãng là có tội. Nhất là ngày nay, chủ quyền dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta đang có nguy cơ bị vi phạm vô cùng nghiêm trọng. Truyền thống bất khuất ấy cũng là niềm tự hào của mỗi tôn giáo, cần luôn luôn được nhắc nhở, mang tính thời sự để nếu đất nước một lần nữa khả năng xấu nhất lại có thể xảy ra thì các tôn giáo luôn đoàn kết trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tức khắc lại là chỗ dựa đáng tin cậy của cách mạng.

Rất mong quý vị đại biểu thảo luận, xây dựng, Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với lòng dân, đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tạo mọi điều kiện thuận lợi để việc đạo, việc đời lúc nào cũng trọn vẹn.

Xin gửi quý vị lời chào trân trọng!

Thái Duy