Báo Đại Đoàn Kết Tinh hoa Việt

Truyền kỳ hạt giống của Sứ thần Phùng Khắc Khoan

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Truyền kỳ hạt giống của Sứ thần Phùng Khắc Khoan

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Sớm xứ Đoài, sương còn đọng trên những bờ cỏ đá ong, nước từ phía núi Thầy lặng lẽ men theo mương nhỏ mà về đồng Bùng. Trên bãi cao, những thân ngô lay động trong gió, lá dài cọ vào nhau thành một thứ âm thanh khô mà ấm, như tiếng người xưa lật từng trang sách. Người làng kể rằng, hơn bốn trăm năm trước, có một vị sứ thần tóc đã bạc, từ phương Bắc trở về, mang theo trong áo những hạt “ngọc mễ”. Hạt nhỏ vượt nghìn dặm đường, qua cửa ải và sự khám xét ngặt nghèo, rồi rơi xuống đất, nảy thành cây ngô.

Chân dung Cụ Phùng Khắc Khoan do Nhà Minh trao tặng trong dịp đi sứ năm 1597.
Chân dung Cụ Phùng Khắc Khoan do Nhà Minh trao tặng trong dịp đi sứ năm 1597.

Sử sách không chép hết câu chuyện ấy. Nhưng tên người được dân gian gửi vào trong hạt giống thì có thật: Phùng Khắc Khoan, người làng Bùng, một bậc đại thần, thi nhân và sứ thần nổi tiếng của nhà Lê trung hưng.

Ông sinh năm 1528 tại Phùng Xá (huyện Thạch Thất, Hà Tây xưa). Phùng Khắc Khoan nổi tiếng học rộng, được các thư tịch đời sau ghi là từng theo học Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhưng đường vào khoa cử của ông không bắt đầu sớm như nhiều danh sĩ khác. Thời nhà Mạc ông ẩn danh không tham gia thi cử và tham gia chính trường. Mãi đến năm 1580, khi đã ngoài 50 tuổi, ông mới đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, tức Hoàng giáp, dưới triều Lê Thế Tông. Ông chưa từng đỗ Trạng nguyên. Hai tiếng “Trạng Bùng” là tước hiệu nhân dân dành cho người con tài đức của làng Bùng - một học vị do lòng dân phong tặng, đôi khi bền hơn mọi phẩm hàm trên giấy.

Phùng Khắc Khoan bước vào chính trường không chỉ với kinh sách. Trong con người ấy còn có con mắt của một người hiểu ruộng vườn. Tác phẩm Nôm “Lâm tuyền vãn”, hiện còn 185 câu lục bát, đi qua cả một thế giới thôn dã: dưa, cà, cải, bí, đậu, mướp, hoa cúc, đàn gà, con lợn, con trâu. Người làm thơ để ý khi nào nên xuống giống, cách giữ vườn khỏi gia cầm giẫm phá, cách tận dụng bờ rào cho dây leo. Ở đó, thiên nhiên không phải bức bình phong cho bậc ẩn sĩ ngâm vịnh. Nó là nơi con người phải gieo, trồng, vun, giữ và chờ đợi. Một vị quan có thể bàn đại nghĩa trong triều, nhưng vẫn biết rằng miếng ăn của dân bắt đầu từ một luống dưa không để lỡ mùa.

Năm 1592, quân Lê – Trịnh đánh bại nhà Mạc, thu phục Thăng Long, kinh thành trở lại tay nhà Lê. Nhưng triều Minh đã giao thiệp lâu năm với nhà Mạc, chưa chịu thừa nhận đầy đủ triều đình Lê Trung hưng.

Mùa hạ năm 1597, triều đình cử Công bộ Tả thị lang Phùng Khắc Khoan làm Chánh sứ, cùng Phó sứ Nguyễn Nhân Thiêm sang Yên Kinh tuế cống và cầu phong. Ông đã gần bảy mươi tuổi - cái tuổi đáng lẽ có thể trở về ngồi dưới mái nhà quê, nhìn mây bay trên núi Sài. Nhưng đường sứ không dành cho người chỉ muốn an thân. Trước mặt ông là cửa ải có thể khép bất cứ lúc nào, là thể lệ có thể biến một sơ suất nghi lễ thành sự hạ thấp quốc thể.

Tại Yên Kinh, gặp tiết Vạn Thọ của Minh Thần Tông, Phùng Khắc Khoan dâng 30 bài thơ (có nguồn từ dân gian là 36 bài). Đại thần Trương Vị đem thơ trình vua. Đại Việt sử ký toàn thư ghi lời phê: “Người hiền tài ở đâu mà không có”. Tập thơ được đưa xuống khắc in; sứ thần Triều Tiên Lý Túy Quang viết tựa và cùng ông xướng họa. Giữa kinh đô của một “nước lớn”, hai sứ thần từ hai phương trời gặp nhau bằng chữ nghĩa. Phùng Khắc Khoan đã dùng thơ văn làm một thứ khí giới không tiếng động: không chém ai, nhưng buộc người khác phải nhìn nhận rằng phương Nam có văn hiến, có hiền tài, có tiếng nói không thể coi thường.

Đền thờ Cụ Phùng Khắc Khoan tại Làng Phùng Xá – Hà Nội (Thạch Thất cũ).
Đền thờ Cụ Phùng Khắc Khoan tại Làng Phùng Xá – Hà Nội (Thạch Thất cũ).

Sứ trình đạt kết quả quan trọng, dù chưa trọn vẹn. Nhà Minh ban sắc ấn, công nhận Lê Thế Tông làm An Nam Đô thống sứ; nhưng chưa lập tức trả lại đầy đủ danh vị An Nam quốc vương. Một người làm ngoại giao giỏi không phải lúc nào cũng đem về mọi thứ trong một chuyến đi. Có khi công lao lớn nhất là mở được cánh cửa vốn đóng chặt, xoay được thế cờ từ chỗ bị phủ nhận sang được chính thức tiếp nhận. Với Đại Việt vừa qua chiến tranh, sự thay đổi ấy có nghĩa là bớt một mối lo ngoài cõi, thêm một khoảng yên để dân trở lại làng, cày lại những thửa ruộng bỏ hoang.

Đến đây, sử quan gần như dừng bút. Nhưng dân gian lại kể tiếp…

Chuyện rằng trên đường qua những miền đồi núi phương Bắc, Phùng Khắc Khoan nhìn thấy một giống cây lạ, thân cao, lá dài, hạt vàng óng, người địa phương gọi là “Ngọc mễ” - gạo ngọc. Cây không cần ruộng nước phẳng như lúa, có thể mọc trên đất cao, chịu hạn mà vẫn cho nhiều hạt. Ông nghĩ đến quê nhà sau bao năm binh lửa, nghĩ đến những vùng đất dốc, những mùa lúa mất trắng, và hiểu rằng một thứ cây như thế có thể cứu người trong năm đói.

Dị bản kể ông xin Ngọc mễ làm lương ăn đường. Lại có dị bản kể mỗi ngày ông ăn một bữa, nhịn một bữa, chắt chiu số hạt còn lại để đem về làm giống. Đến gần Nam Quan, quan quân nhà Minh báo có lệnh cấm mang hạt ra khỏi biên giới. Ông đành đổ phần Ngọc mễ trông thấy được, nhưng kín đáo giữ lại một nắm, chia cho mỗi người trong đoàn hai hạt và căn dặn phải đưa về bằng được. Khi qua ải, lính xét từ hành lý đến thân người. Một người tiền trạm bị khám quá kỹ, sợ lộ, đành nuốt mất hai hạt. Qua khỏi cửa quan, ai nấy nộp lại giống; riêng anh lính đứng bần thần rồi thú thật. Cả đoàn bật cười.

Đó là một truyện Trạng đẹp: có trí, có hiểm nguy, có tiếng cười, và cuối cùng có một món quà dành cho dân nghèo. Nhưng người kể chuyện hôm nay phải nói rõ rằng các bộ chính sử chép rất kỹ về sắc phong, thơ Vạn Thọ và cuộc tranh biện ngoại giao, lại không ghi việc mang ngô (ngọc mễ). Sử gia Lê Quý Đôn, trong “Vân đài loại ngữ”, còn cho biết đầu đời Khang Hy, Trần Thế Vinh người Sơn Tây mới lấy giống ngô đem về, khiến cả vùng Sơn Tây có thêm thức ăn thay cơm gạo. Các nghiên cứu ngôn ngữ–lịch sử gần đây cũng nghiêng về khả năng ngô được phổ biến ở Đàng Ngoài vào cuối thế kỷ XVII, rồi tới Đàng Trong muộn hơn.

Dẫu vậy, truyền thuyết không phải vì thế mà trở nên vô nghĩa. Ngô đã xuất hiện trong thư tịch Trung Quốc trước năm 1597, nên việc một sứ thần Đại Việt nhìn thấy giống cây này là điều có thể. Có thể Phùng Khắc Khoan từng mang về một ít nhưng giống không tồn tại lâu. Có thể ông góp phần truyền bá sớm mà không phải người đầu tiên. Cũng có thể câu chuyện ngọc mễ được đời sau kết tinh từ nhiều ký ức khác nhau về một con người luôn quan sát điều hữu ích trên đường đi và nghĩ cách đem về cho dân. Điều chưa có chứng cứ thì không nên biến thành sự thật tuyệt đối; nhưng điều dân gian gửi gắm trong câu chuyện vẫn có sự thật riêng của nó - sự thật về phẩm cách mà cộng đồng tin rằng ông đã có.

Ở quê Bùng, người ta còn nhớ ông qua những dòng mương dẫn nước, những cây cầu bên núi Thầy và nghề dệt lượt từng làm nên tiếng tăm của làng. Những công trình ấy hiện được biết chủ yếu qua ký ức địa phương và tư liệu di tích, chưa phải việc nào cũng xác định được niên đại bằng văn bản cùng thời. Song chúng cùng hội tụ về một hình tượng: Phùng Khắc Khoan đi xa không để tích lũy kỷ vật cho riêng mình. Cái ông đem về - trong lịch sử hoặc trong truyền thuyết - đều là những thứ có thể biến thành sinh kế: một sắc ấn để giảm họa binh đao, một kỹ nghệ để dân có nghề, một dòng nước cho ruộng, một giống cây trồng cho đất cao. Gần 500 năm sau, ngoài thơ văn Phùng Khắc Khoan thể hiện lý tưởng của nhà nho nhập thế; không ai còn có thể chỉ ra những hạt ngọc mễ đầu tiên, nếu chúng từng nằm trong tay vị sứ thần già năm ấy, nhưng mỗi khi gió thổi qua bãi ngô xứ Đoài, câu chuyện lại sống dậy: một người đi qua cửa ải, trong tay cầm quốc thư mà trong lòng vẫn nhớ đến bữa ăn của dân.

Có lẽ đó mới là hạt giống lớn nhất Phùng Khắc Khoan để lại. Không chỉ là hạt của một loài cây, mà là hạt của một đạo làm quan: giữ cho nước không cúi đầu, học lấy điều hay của thiên hạ, rồi đem trí tuệ trở về gieo xuống ruộng đồng quê hương.

PGS.TS. Mai Quang Vinh