Báo Đại Đoàn Kết Tinh hoa Việt

Từ chân núi

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Từ chân núi

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Những con đường chân núi dẫn chúng tôi vào quanh co xanh mướt.

Từ chân núi

Mưa lúc sáng trời làm cây lá non lại, bừng lên, có những luồng nắng tỏa thì sắc nét như là đang ngắm nhìn bưu ảnh vậy. Mưa vào chiều thì khác, làm thẫm trong nắng đang tắt, nhưng vẫn kịp hửng chút sắc xanh hơi bóng bẩy lên, mỡ màng. Rồi lá chiều sẽ nhòa dần với khói mỏng nhà ai đó còn đun bếp và mây nằng nặng bục bục trắng rất gần đằng kia như vẫn chờ cơn mưa tiếp.

Người bạn dạy văn cửa nhà hướng thẳng về phía núi đã giới thiệu cho chúng tôi để có một đêm trong suốt, vắng vẻ dưới chân Ba Vì, mưa mưa ướt, mát lành lạnh, mùa đã chuyển se se, không còn oi ả nữa. Dẫn vào tối đêm mùa thu chân núi hiếm hoi ấy, tôi đi xuyên nắng sang mưa, qua ánh cuối ngày đến hun hút vùng mờ tối, bần thần theo những dốc lượn là một cảm giác xa khuất, cách trở, một cảm giác côn trùng, một bảng lảng nỗi niềm hoang thú và lờ mờ về những “vùng người” khép kín. Năm xưa những mái nhà người Dao, những bản Mường đâu đó theo chân núi này, hẳn để đi ra được đến ngoài đường cái, hướng về phía những thành Sơn, Cam Lâm, Mông Phụ, Thanh Chiểu… hay phía phủ Quốc mà mua bán, trao đổi với các làng thôn người Kinh, chắc cũng mất cả ngày cả buổi. Địa hình, khoảng cách, thời tiết miền núi Ba Vì, cuộc sống quần tụ làm nên những không gian riêng. Người ta ở trong ấy bình yên sống, làm lụng với những quan niệm, kinh nghiệm và thực hành các phong tục đã được “mặc định”.

Bây giờ tôi không thấy, không biết gì hơn, về một quá khứ… chưa biết ấy, ít nhất cũng bởi chúng tôi chỉ là vãng khách, lướt đi cái kiểu lượt phượt trốn khỏi phố xá về chân núi một đêm. Nhưng rừng, những cây to, cây bụi lúp xúp, những nhà thưa thoáng sau các lùm tre đã phần nào cho mình chút mường tượng ấy. Chút quý giá trong một chiều dè xẻn! Dù chắc chẳng còn mấy gia đình đồng bào ở phía ngoài mặt đường, và đường nhựa bon bon đã hiện lên mấy biển chỉ đường, cổng to, lối ô tô ngã ba dẫn vào những khu nghỉ dưỡng trông to và tiện nghi. May có rừng, có cây, có mưa chiều tiếp lối, làm cho mọi dồn ép mang từ phố lên như loãng ra, nhẹ lại. Như mây lớn bềnh bồng dăng ngang trắng quanh đỉnh núi đen thẫm trên kia.

Một ngày trời nắng dày, vàng óng như đá ong ngả màu, như tưởng mồ hôi chảy ra cũng là mật vậy, chúng tôi vòng theo đê lớn, một bên sông Hồng chảy chói lóa hắt ánh sáng về phía những vệt bờ bãi Việt Trì, một bên làng tiếp làng những xã Ba Vì đang chen các lùm cây cũ với nhà bê tông mới. Con dốc này dẫn xuống làng có nhà thờ ông tiến sĩ ngày xưa đi sứ, nghe nói giấu cả hạt ngô vào đâu đó phần kín của mình mang về, để bây giờ những bãi ngô trổ cờ vung vẩy đỡ đần bao thế hệ dân đồng bằng, trung du xứ này, là nhờ công ông ấy. Con dốc khác xuống ngôi đình làng kia, ngôi đình làng nữa, mà phần nhiều các đình nơi này chung thờ đức Thánh Tản Viên. Một cánh đồng rộng lắm, không có vật cản nên càng cảm giác lá lúa vươn dài xa tận phía chân mây kia, nơi núi Tản đang vươn lên lồng lộng. Phía đằng này theo hình vòng cung của ô thửa, lô nhô những dãy núi kéo lên phía Hòa Bình, kéo sang vùng Phú Thọ. Đường theo mương dẫn qua xa xa một cái gò đã thấp mòn dần theo trăm năm, giờ chỉ hơn bãi đất phẳng một chút, có tán cây vươn lên giữa đồng như làm dấu. Người mới đến nhìn không thể biết, nhưng trong niềm chân thành, dân ở đây vẫn gọi đó là gò con cá. Nghe bảo ngày xưa đất gò nổi lên hình con cá to lớn, đủ phần đầu, thân, đuôi, đỉnh gò chỗ cao nhất là mắt cá đấy. Lại có chuyện, xưa cụ tổ một dòng họ lớn trong vùng được táng ở đây, một người mà những hai ngôi mộ. Ấy là khi con cháu rước cụ ra đồng, mưa gió sấm chớp ghê quá người ta phải để tạm lại. Sáng ngày mai ra định hoàn tất công việc, đã thấy hai đống mối lớn trùm lên kín cụ từ lúc nào, không phân biệt nổi. Thế là phải xây cả hai ngôi, đời này, đời sau cứ thế thắp hương, bây giờ vẫn thế.

Những gò đất hình kiểu con cá, con rồng, con rùa…, hay gò được gọi tên ông này ông khác, tôi đi qua nhiều làng quê các nơi, nghe nhiều người hay nhắc lắm. Địa hình làm ra cho làng quê những gò những đống. Xa xưa lắm ông cha làm thủy lợi buổi sơ khai, đào đắp mà ra những gò đống để lại. Nhiều vị có công với nước với làng với họ được táng ở đấy. Hồi bé tôi đã bần thần nhìn một cái gò như thế, ở cuối mạn Hà Đông, ngạc nhiên vì gò quá to và thấy sờ sợ, tưởng đó chính là một quả đồi. Bây giờ gò ấy như thấp xuống, xem chừng nhỏ lại, và tôi bắt đầu cảm thấy chỗ ấy chỉ bình thường như một mô đất cao. Phải chăng có những gì đó trong tôi đã mất đi giữa cánh đồng đang sặc mùi hôi bởi nước đen từ sông Đáy chảy vào tràn ngập? Bao nhiêu điều đã trở nên trần trụi từ đời sống, đã tan biến từ con mắt của mỗi người qua thời gian thực dụng, trầy xước, nhìn lại những ảo tưởng, những suy nghĩ hoang dại, lãng mạn ấu thơ mà thấy dửng dưng.

Có lẽ trong một “ranh giới văn hóa” của ngôi làng, cánh đồng và những rặng cây, những con đường uốn lượn ấy, người ta còn giữ được giữa cộng đồng những tâm niệm chung phảng phất màu sắc tâm linh về người, về vật có gốc gác nơi này. Có lẽ anh bạn nhà giáo kia của tôi, dù ở ra ngoài phố, nhưng vẫn tự giữ một cái gốc gác nào đó của nơi sinh thành, vẫn suy nghĩ không ngừng bằng cả thái độ phân tích lẫn niềm ngưỡng mộ đầy huyễn hoặc và hào hứng về những câu chuyện xưa nay quanh ngọn núi trước nhà, về cánh đồng quê có cái gò con cá. Có cả chuyện nay nữa đấy. Thế mới lạ! Phía sau nhà, nhìn thì gần, cách khoảng cây số thôi, thầy giáo chỉ quả núi sót, đấy là ngày xưa Sơn Tinh gánh đất bị đứt quai sọt, đất rơi xuống thành quả núi nhỏ. Trên núi những năm trước, một ngôi chùa lớn mọc lên. Quanh cơ ngơi mới mẻ ấy, đã kịp có những điều dân gian thêu dệt.

Nhưng núi không chỉ có một, mà cả hai, vãi ra từ sọt đứt. Hai quả núi nhỏ vươn lên sàn sàn nhau, hao hao nhau, đầy đặn. Thầy giáo hứng thú cho biết từ lâu người trong vùng đã ví đó như bộ ngực người phụ nữ. Thầy chỉ đường cho chúng tôi đi vòng vòng ra dừng xe ở vị trí tiện quan sát để dễ thấy nhất nét tượng hình gợi cảm ấy.

Hình như bây giờ, giữa những xáo trộn, nhiều khi người ta cần giữ được cách nhìn, cách nghĩ như vậy, để sống bình thường, sống cẩn thận và yên ổn trong không gian sinh tồn, không gian văn hóa của mình. Chúng tôi trở lại những con đường chân núi vào chiều mưa vắng trời tối dần, một chiều thu mưa xa xa phía Tây thành phố ồn ào và ùn tắc. Vòng quanh những dốc, tôi muốn tìm nét gì thân thiện như mình tưởng tượng trong một nếp nhà, một sắc áo những con người gióng cồng chiêng, thái cây thuốc phơi khô, đang ca hát hay thực hiện một nghi lễ nào đó nhiều thức giấy màu… Nhưng tôi không gặp điều mình muốn tưởng tượng. Có lẽ tôi không phải là người được chọn. Dường như những người chúng tôi, còn phải nhiều lần quay lại nơi này.

Dương Xuân