Từ hào khí mùa Thu độc lập đến nhịp sống mới ở Tân Trào
Từ Tân Trào - nơi những quyết định hệ trọng mở đường cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 - đến những bản làng hôm nay đang mở đường, dựng nhà, phát triển sản xuất, làm du lịch và nuôi dưỡng những khát vọng mới, mạch nguồn cách mạng vẫn bền bỉ chảy. Trên quê hương cách mạng, hào khí của mùa Thu độc lập không chỉ được lưu giữ trong những di tích, mà đang hiện diện trong sức dân, trong từng đổi thay của cuộc sống.

Mạch nguồn mùa Thu trên đất Tân Trào
Tháng Tám, nắng xuyên qua những tán cây cổ thụ, trải vàng trên mái đình Tân Trào rồi đổ xuống con đường dẫn vào thôn Tân Lập. Dưới gốc đa lịch sử, một đoàn khách đứng lặng nghe thuyết minh về buổi chiều 16/8/1945, khi đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Uỷ ban Khởi nghĩa Toàn quốc đọc Bản Quân lệnh số 1 và hạ lệnh xuất quân tiến về Hà Nội.
Cách đó không xa, đình Tân Trào trầm mặc giữa màu xanh của núi rừng. Dưới mái đình đơn sơ này, trong hai ngày 16 và 17/8/1945, Quốc dân Đại hội đã tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, bầu Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, quy định Quốc kỳ, Quốc ca của Tổ quốc.
Rời mái đình Tân Trào, men theo con đường nhỏ dưới tán rừng Nà Nưa, du khách tìm đến căn lán nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và làm việc từ cuối tháng 5 đến ngày 22/8/1945. Lán dựng theo kiểu nhà sàn của đồng bào miền núi, nhỏ bé, đơn sơ giữa đại ngàn. Ít ai có thể hình dung, chính từ nơi giản dị ấy, những quyết sách làm chuyển xoay vận mệnh dân tộc đã được hình thành. Trong gần ba tháng ở Nà Nưa, Bác đã soạn thảo nhiều văn kiện, chỉ thị, chủ trương quan trọng liên quan đến Cách mạng Tháng Tám. Hôm nay, đứng trước căn lán nhỏ, nghe kể về những ngày Bác sống và làm việc giữa muôn vàn gian khó, mỗi du khách càng cảm nhận sâu sắc hơn phong cách giản dị, ý chí kiên cường và tầm nhìn lớn lao của Người trong mùa thu lịch sử.
Lịch sử ấy còn được lưu giữ trong ký ức của những người dân từng chở che cách mạng. Ông Hoàng Ngọc (sinh năm 1937), người thôn Tân Lập, là một trong số ít nhân chứng còn có thể kể về những ngày “ông Ké” sống giữa bản làng. Ở tuổi gần 90, đôi mắt đã mờ, giọng nói đôi lúc ngắt quãng, nhưng mỗi lần nhắc đến Bác Hồ, ký ức của người đảng viên hơn 60 năm tuổi Đảng lại sáng rõ.
Một ngày cuối tháng 5/1945, sau hành trình dài vượt núi rừng, Bác Hồ về làng Kim Long, nay là thôn Tân Lập. Ban đầu, Người ở nhà ông Nguyễn Tiến Sự, Chủ nhiệm Việt Minh của địa phương, và thường làm việc tại gia đình ông Ngọc. Bố ông, cụ Hoàng Trung Nguyên, khi ấy là cán bộ giao liên phục vụ cách mạng.
Bà con gọi thân mật là “ông Ké” - người già đáng kính trong tiếng Tày. Trong ký ức ông Ngọc, “ông Ké” rất hiền và gần gũi. Cậu bé Hoàng Ngọc khi ấy vừa chăn trâu, vừa làm nhiệm vụ của Đội Nhi đồng cứu quốc, để ý người lạ ra vào làng và báo cho cán bộ.

Ông Ngọc cho hay, kỷ niệm sâu đậm nhất với ông là những ngày diễn ra Quốc dân Đại hội. Sau khi Đại hội thành công, dân làng Kim Long cử một đoàn gồm phụ lão, thanh niên, phụ nữ và thiếu nhi, đến chúc mừng. Cậu bé Hoàng Ngọc là một trong bốn thiếu nhi được chọn đi. Nhìn những đứa trẻ gầy gò, quần áo vá chằng vá đụp, Bác tiến lại gần, ân cần xoa đầu rồi căn dặn các đại biểu phải làm sao để trẻ em có cơm ăn, áo mặc và được học hành. Lời nói mộc mạc ấy theo ông Ngọc suốt cuộc đời. Với ông, đó là điều căn cốt của cách mạng: giành độc lập để người dân được sống ấm no, tự do, con trẻ có tương lai.
81 năm sau mùa Thu lịch sử, điều khiến ông Hoàng Ngọc vui nhất là những mong ước giản dị năm xưa đang dần trở thành hiện thực trên chính mảnh đất từng chở che cách mạng. Từ hiên nhà nhìn ra con đường rộng mở, ông bảo cuộc sống của người dân đã khác xa những năm tháng đói nghèo. Trẻ em được học hành, người ốm được chăm sóc, nhà cửa khang trang hơn; điện, đường và các phương tiện sản xuất đã về đến từng thôn xóm.
Khi di sản trở thành sinh kế
Thôn Tân Lập hiện có 350 hộ, 1.579 nhân khẩu thuộc 7 dân tộc cùng sinh sống, đông nhất là đồng bào Tày. Trên địa bàn có khoảng 30 điểm di tích lớn nhỏ, trong đó có những địa danh đã đi vào lịch sử dân tộc như: lán Nà Nưa, đình Tân Trào, cây đa Tân Trào và nhiều nơi từng là trụ sở, địa điểm làm việc của các cơ quan Trung ương trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến.

Ông Bế Văn Dự, Trưởng thôn Tân Lập, nhớ lại trước đây đời sống người dân chủ yếu dựa vào ruộng lúa và chăn nuôi nhỏ lẻ. Những nếp nhà sàn cổ chứa đựng giá trị văn hóa nhưng chưa thể tạo ra thu nhập. Khách về nguồn thăm di tích rồi đi, còn sản vật của người dân vẫn quẩn quanh trong bản.
Khi hạ tầng được đầu tư, các hộ được hỗ trợ chỉnh trang nhà ở, tập huấn kỹ năng làm du lịch, một hướng đi mới dần mở ra. Nhà sàn được bổ sung chỗ nghỉ, khu vệ sinh, nơi ăn uống nhưng vẫn giữ kiến trúc và nếp sinh hoạt của đồng bào Tày. Đến nay, Tân Lập có 18 hộ làm homestay cùng 2 doanh nghiệp du lịch tư nhân. Du khách đến Tân Trào không còn chỉ thắp hương, nghe thuyết minh tại di tích rồi rời đi. Họ có thể ngủ lại trong nhà sàn, thưởng thức món ăn địa phương, nghe hát Then, đàn Tính, trải nghiệm công việc thường ngày và nghe chính người dân kể chuyện về vùng chiến khu xưa.
Trong căn nhà sàn đón khách, anh Hoàng Văn Lự (thôn Tân Lập) tất bật chuẩn bị chỗ nghỉ, bữa ăn. Từ ngày làm homestay, khách lưu trú thường xuyên hơn, gia đình có thêm nguồn thu nhưng không phải rời bỏ đồng ruộng. Lúa gạo, rau xanh, gà, cá.. do nhà làm ra cũng có đầu ra ngay tại chỗ. “Gia đình vẫn kết hợp sản xuất nông nghiệp. Sản phẩm làm ra có thể phục vụ, bán cho khách du lịch nên thu nhập ổn định hơn”, anh Lự chia sẻ.
Dòng khách về nguồn khiến những thứ quen thuộc của bản làng có thêm giá trị. Mớ rau trong vườn, búp chè trên nương, món ăn truyền thống hay một đêm hát Then đều trở thành một phần của sản phẩm du lịch. Người cao tuổi kể chuyện lịch sử, phụ nữ nấu ăn; thanh niên làm hướng dẫn viên, quảng bá điểm đến, bán sản phẩm trên môi trường số. Di sản bước vào đời sống, tạo thêm việc làm, thu nhập và lý do để người dân giữ nhà sàn, tiếng nói, ẩm thực, làn điệu dân ca của dân tộc mình.
Viết tiếp khát vọng trên quê hương cách mạng
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, xã Tân Trào mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất các xã Tân Trào, Trung Yên và Kim Quan, có diện tích 98,57 km2, dân số gần 15.000 người. Không gian rộng hơn mở ra những tiềm năng mới, đồng thời đặt ra yêu cầu kết nối phát triển giữa vùng lõi di tích với các khu vực sản xuất, dịch vụ và dân cư.

Nếu Tân Lập là điểm nhấn của du lịch lịch sử cách mạng và cộng đồng, các vùng khác của xã lại có thế mạnh về chè, cây ăn quả, chăn nuôi. Bài toán hôm nay là lan tỏa lợi ích từ dòng khách đến nhiều thôn bản, đưa nông sản thành hàng hóa, quà tặng du lịch và để người dân thực sự làm chủ kinh tế di sản.
Ông Dương Minh Tuấn - Chủ tịch UBND xã Tân Trào, cho hay, Tân Trào là xã đầu tiên của tỉnh Tuyên Quang hoàn thành xây dựng nông thôn mới. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, xã có thêm nhiều tiềm năng và dư địa phát triển, nhưng trụ cột vẫn là du lịch lịch sử cách mạng gắn với bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào.
Ông Tuấn cho rằng, lượng khách đến Tân Trào sẽ ngày càng tăng. Vấn đề là làm thế nào để giữ du khách ở lại Tân Trào lâu hơn. Theo ông Tuấn, muốn phát triển du lịch bền vững, trước hết phải bảo tồn hệ thống di tích, bởi “có di tích mới có du lịch”. Cùng với đó, xã định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo phương châm “nông nghiệp phải hỗ trợ cho du lịch”; xây dựng sản phẩm gạo Tân Trào, nâng cao giá trị mật ong, chè, rượu men lá và các sản phẩm OCOP. Mục tiêu cuối cùng là biến “địa chỉ đỏ” thành nguồn lực nội sinh, để giá trị từ lịch sử và du lịch trực tiếp nâng cao đời sống người dân.
Những định hướng ấy chỉ có thể thành hiện thực khi người dân không đứng ngoài cuộc. Ở Tân Trào, mỗi di tích được bảo vệ, mỗi nếp nhà được gìn giữ, mỗi sản phẩm du lịch được hình thành đều gắn với sinh kế và trách nhiệm của cộng đồng. Khi người dân cùng bàn, cùng làm, cùng thụ hưởng, quá khứ cách mạng mới thực sự trở thành động lực phát triển hôm nay.
Trên miền đất từng góp phần làm nên mùa Thu độc lập, hào khí cách mạng đang được tiếp nối bằng sức dân. Từ hiến đất mở đường, chỉnh trang thôn xóm đến gìn giữ nếp nhà, cảnh quan và làm du lịch cộng đồng. Mặt trận trở thành cầu nối tập hợp nhân dân, biến niềm tự hào về quê hương cách mạng thành những việc làm cụ thể.

Bà Nông Thị Liều, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Tân Trào, cho rằng: Giá trị lớn nhất Tân Trào có được không chỉ là hệ thống di tích, mà còn là truyền thống đoàn kết và tinh thần trách nhiệm của người dân với quê hương. Mỗi công trình, mỗi mô hình phát triển chỉ thực sự bền vững khi người dân được tham gia, được thụ hưởng và trở thành chủ thể gìn giữ, phát huy di sản.
MTTQ xã tiếp tục vận động nhân dân bảo vệ không gian di tích, giữ gìn bản sắc văn hóa, xây dựng khu dân cư tự quản và phát triển du lịch gắn với sinh kế. Đồng thời, Mặt trận phát huy vai trò giám sát, nắm bắt nguyện vọng, góp phần tạo sự đồng thuận để các chủ trương, dự án vừa thúc đẩy phát triển, vừa mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng.
“Khi sức dân được khơi dậy và quy tụ, di sản không chỉ được gìn giữ mà còn trở thành nguồn lực để Tân Trào phát triển. Những con đường mới khi ấy không chỉ mở lối đi, mà còn mở thêm sinh kế, niềm tin và khát vọng vươn lên trên quê hương cách mạng”, bà Liều nhấn mạnh.
Chiều xuống trên Tân Trào, tiếng thuyết minh dưới mái đình, bên cây đa lịch sử hòa vào tiếng trẻ nhỏ ríu rít trên đường làng. Trong những nếp nhà sàn, bếp đã đỏ lửa, người dân sửa soạn bữa cơm đón khách. Ngoài cánh đồng, tiếng máy thay dần nhịp chân trâu và những đường cày cũ trong ký ức ông Hoàng Ngọc.
81 mùa Thu đã đi qua, lời căn dặn năm nào của Bác về một cuộc sống có cơm ăn, áo mặc, được học hành không còn chỉ nằm trong ký ức, mà đang hiện hữu trong từng mái nhà ấm lửa, từng con đường rộng mở và nhịp sống ngày một đủ đầy trên quê hương cách mạng Tân Trào.