Tuổi nghỉ hưu năm 2027 được tính như thế nào?
Theo lộ trình này, trong năm 2027, lao động nam làm việc trong điều kiện bình thường có tuổi nghỉ hưu là 61 tuổi 9 tháng, trong khi lao động nữ là 57 tuổi 4 tháng.
Tuổi nghỉ hưu tiếp tục tăng theo lộ trình
Bộ luật Lao động năm 2019 quy định tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh tăng dần theo từng năm. Theo lộ trình, đến năm 2028, tuổi nghỉ hưu của lao động nam đạt 62 tuổi; đến năm 2035, lao động nữ đạt 60 tuổi.
Cụ thể, từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu được xác định ở mức 60 tuổi 3 tháng đối với nam và 55 tuổi 4 tháng đối với nữ. Sau đó, mỗi năm tuổi nghỉ hưu của nam tăng thêm 3 tháng, còn nữ tăng thêm 4 tháng.

Ngoài nhóm lao động làm việc trong điều kiện bình thường, pháp luật cũng quy định những trường hợp được nghỉ hưu sớm hoặc kéo dài thời gian làm việc. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động, làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc thuộc nhóm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn. Mức giảm tối đa là 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại thời điểm nghỉ hưu, trừ những trường hợp được pháp luật quy định riêng.

Ngược lại, người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và một số trường hợp đặc biệt có thể nghỉ hưu muộn hơn tuổi quy định, nhưng thời gian kéo dài không quá 5 tuổi.
Căn cứ Nghị định số 135/2020/NĐ-CP của Chính phủ về tuổi nghỉ hưu, việc xác định thời điểm nghỉ hưu được thực hiện theo năm sinh và lộ trình áp dụng tương ứng. Người lao động có thể đối chiếu bảng tra cứu tuổi nghỉ hưu năm 2027 dành cho nam và nữ để xác định thời điểm đủ tuổi theo quy định.
Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, người lao động được hưởng lương hưu khi đáp ứng điều kiện về tuổi nghỉ hưu theo Bộ luật Lao động và có thời gian đóng BHXH bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên.
Như vậy, đối với người làm việc trong điều kiện bình thường, điều kiện hưởng lương hưu năm 2027 là có ít nhất 15 năm đóng BHXH bắt buộc và đạt tuổi nghỉ hưu theo quy định, tương ứng 61 tuổi 9 tháng đối với nam và 57 tuổi 4 tháng đối với nữ.
Mức lương hưu hằng tháng phụ thuộc vào thời gian tham gia BHXH và mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH. Tỷ lệ hưởng được xác định theo quy định riêng đối với lao động nam và lao động nữ.
Với lao động nữ, tỷ lệ hưởng lương hưu khởi điểm là 45% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH tương ứng với 15 năm đóng. Từ năm đóng tiếp theo, mỗi năm được cộng thêm 2%, nhưng tổng tỷ lệ hưởng không vượt quá 75%.
Mức bình quân tiền lương đóng BHXH được tính thế nào?
Theo Điều 72 Luật BHXH năm 2024, cách xác định mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH để tính lương hưu phụ thuộc vào chế độ tiền lương và thời điểm người lao động bắt đầu tham gia BHXH.
Đối với người có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, số năm tiền lương được dùng để tính bình quân được xác định theo thời điểm bắt đầu tham gia BHXH. Người bắt đầu tham gia trước ngày 1/1/1995 tính bình quân 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu; tham gia từ năm 1995 đến năm 2000 tính bình quân 6 năm cuối; từ năm 2001 đến năm 2006 tính bình quân 8 năm cuối; từ năm 2007 đến năm 2015 tính bình quân 10 năm cuối; từ năm 2016 đến năm 2019 tính bình quân 15 năm cuối; từ năm 2020 đến năm 2024 tính bình quân 20 năm cuối.

Với người bắt đầu tham gia BHXH từ ngày 1/1/2025 trở đi, mức bình quân được tính trên toàn bộ thời gian đóng BHXH.
Trong khi đó, người có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định được tính bình quân tiền lương của toàn bộ thời gian đóng. Trường hợp có cả thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, mức bình quân được tính chung theo nguyên tắc quy định tại Điều 72.
Việc nắm rõ tuổi nghỉ hưu, điều kiện về thời gian đóng và cách tính lương hưu giúp người lao động chủ động kiểm tra quá trình tham gia BHXH, xây dựng kế hoạch làm việc và chuẩn bị tài chính cho giai đoạn nghỉ hưu.