Báo Đại Đoàn Kết Sức khỏe

Tương lai của vaccine nội phòng bệnh

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Tương lai của vaccine nội phòng bệnh

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Dự kiến vào năm 2017-2018, Việt Nam sẽ hoàn thành việc nghiên cứu và sản xuất vaccine “6 trong 1” và đến năm 2020, vaccine thương phẩm sẽ được sản xuất thành công và đưa vào sử dụng. Đó là những tín hiệu vui mở ra cánh cửa tương lai của vaccine nội trong công tác phòng, chống bệnh ở trẻ em.

Cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Nghiên cứu, Sản xuất Vaccine và Sinh phẩm Y tế đang làm việc trong dây chuyền sản xuất vaccine Sởi-Rubella.

Tự cung cấp 11 loại vaccine tiêm chủng mở rộng

Theo báo cáo của Bộ Y tế, Việt Nam là một số ít trong các quốc gia sản xuất được vaccine phòng bệnh cho người. Từ một nước phải phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn vaccine nhập ngoại, hiện nay, nước ta đã có 4 nhà máy sản xuất vaccine và sản xuất được 12 loại vaccine gồm: vaccine lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi, bại liệt, viêm gan B, viêm gan A, viêm não Nhật Bản B, tả, thương hàn, tiêu chảy do Rota virus. Chương trình tiêm chủng mở rộng có 12 loại vaccine thì Việt Nam có thể tự cung cấp được 11 loại vaccine.

Có thể khẳng định, đến thời điểm này vaccine nội đã từng bước thực hiện sứ mệnh to lớn của mình là thanh toán được bệnh bại liệt; loại trừ uốn ván sơ sinh; khống chế được bệnh tả, bệnh viêm não Nhật Bản...

Bên cạnh đó, Việt Nam còn được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về NRA (hệ thống quản lý quốc gia về vaccine) công nhận đạt tiêu chuẩn về hệ thống quản lý quốc gia về vaccine theo tiêu chuẩn của WHO với kết quả rất xuất sắc, tất cả các chức năng đều đạt trên 90%, trong đó có 3 chức năng đạt 100%, bình quân cả 6 chức năng NRA đạt 95%.

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết, với việc đạt được NRA sẽ mở ra cánh cửa xuất khẩu vaccine của chúng ta ra thế giới, góp phần cung cấp vaccine phòng, chống dịch bệnh cho khu vực và toàn cầu.

Kỳ vọng lớn

Đạt được nhiều thành tựu trong sản xuất vaccine, song hiện tại một số vaccine “5 trong 1” và “6 trong 1” Việt Nam vẫn chưa thể sản xuất được do những khó khăn nhất định về công nghệ, vốn.

Ông Phạm Ngọc Đính- chuyên gia Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương cho rằng, do chưa sản xuất được vaccine tổng hợp nên thời gian vừa qua việc khan hiếm vaccine dịch vụ trở nên trầm trọng khi số trẻ chưa được tiêm phòng đúng lịch chiếm tỷ lệ cao.

Việc bùng phát dịch bạch hầu, ho gà thời điểm giữa năm 2015 đầu năm 2016 là hậu quả của việc các bậc cha mẹ chờ đợi vaccine dịch vụ, bỏ qua thời điểm vàng trong tiêm chủng của trẻ.

Tình trạng khan hiếm vaccine cũng khiến nhiều người dân nghĩ tới việc mua vaccine “xách tay”, hoặc đưa con sang nước ngoài tiêm phòng. Cả hai biện pháp này đều tốn kém kinh phí, chưa kể việc tiêm vaccine “xách tay” lại tiềm ẩn nhiều rủi ro tới sức khỏe của trẻ.

Theo dự kiến vào năm 2017-2018, Việt Nam sẽ hoàn thành việc nghiên cứu và sản xuất vaccine “6 trong 1” và đến năm 2020, vaccine thương phẩm sẽ được sản xuất thành công và đưa vào sử dụng.

Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long, thị trường vaccine toàn cầu có giá trị rất lớn, vì vậy trong định hướng nghiên cứu, sản xuất vaccine “made in Vietnam”, cần phải chuyển các giá trị khoa học trong lĩnh vực vaccine “nội” thành hàng hóa có giá trị thương mại cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.

Bởi vậy, việc nâng cao công nghệ để tự sản xuất được các loại vaccine hỗn hợp là hết sức cần thiết và cấp bách trong giai đoạn sắp tới.

Vấn đề nghiên cứu ứng dụng công nghệ ở trình độ cao để có thể chủ động cung ứng từng loại vaccine đang là một thách thức, đòi hỏi các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp cần có giải pháp phù hợp.

Bởi hiện khó khăn lớn nhất là sự phối hợp giữa các tổ chức khoa học công nghệ và doanh nghiệp chưa nhịp nhàng, chặt chẽ. Các đơn vị chưa có sự kết hợp để nghiên cứu, đưa ra những sản phẩm chất lượng và an toàn nhất.

Ngoài ra, trong trường hợp dịch bệnh diễn biến theo chiều hướng thay đổi về trục lây bệnh, các cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp cần hoàn toàn chủ động về công nghệ để tiếp tục tạo những chủng giống vaccine mới và thích ứng những điều kiện bùng phát dịch bệnh mới.

Để làm tốt điều này, đang đòi hỏi các cơ quan quản lý Việt Nam cần tiếp tục đầu tư hơn nữa về nhân lực và cơ sở vật chất nhằm chủ động trong hoạt động nghiên cứu và tạo chủng vaccine phòng, chống bệnh.

Dương Khánh