Tuyên Quang: Hội tụ những miền di sản, mở lối phát triển
Trao đổi với Báo Đại đoàn kết, ông Đỗ Hùng Đức, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang chia sẻ tầm nhìn, định hướng và những giải pháp trọng tâm nhằm chuyển hóa giá trị di sản của tỉnh Tuyên Quang thành nguồn lực kinh tế, đưa du lịch phát triển bền vững, gắn tăng trưởng với gìn giữ bản sắc và nâng cao đời sống người dân.

Nhìn lại thời gian qua, theo ông, đâu là những thành tựu, dấu ấn nổi bật nhất của Tuyên Quang trong bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa và phát triển du lịch? Những kết quả đó đã tạo nền tảng như thế nào để tỉnh bước vào giai đoạn phát triển mới?
Ông Đỗ Hùng Đức: Thời gian qua, tôi cho rằng dấu ấn nổi bật của Tuyên Quang là từng bước gắn bảo tồn với phát huy giá trị di sản, văn hóa và phát triển du lịch, qua đó tạo thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân.
Hiện nay, toàn tỉnh có 794 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh, 4 bảo vật quốc gia và 53 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục quốc gia; trong đó nhiều giá trị đã được quốc tế ghi nhận, tiêu biểu là di sản "Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam" được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2019, Tuyên Quang là một trong những địa phương có di sản này được ghi danh.
Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn tiếp tục là một điểm nhấn về địa chất, cảnh quan và văn hóa. Cùng với đó, các không gian Tân Trào, Na Hang - Lâm Bình, Cao nguyên đá Đồng Văn và du lịch cộng đồng ngày càng tạo được dấu ấn; Lô Lô Chải được Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism) vinh danh “Làng Du lịch Tốt nhất thế giới” năm 2025. Nhiều lễ hội, nghề thủ công, nghệ thuật dân gian và tri thức bản địa được bảo tồn, phục dựng và phát huy; hạ tầng, cơ sở lưu trú, dịch vụ, xúc tiến quảng bá, chuyển đổi số và liên kết phát triển du lịch từng bước được tăng cường; sự tham gia của doanh nghiệp và cộng đồng ngày càng rõ nét.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước đón 3,24 triệu lượt khách, tổng chi tiêu của du khách ước đạt khoảng 8.984 tỷ đồng, bằng 90,1% kế hoạch năm. Có được những kết quả này là nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, sự đồng hành của HĐND tỉnh, sự điều hành quyết liệt của UBND tỉnh cùng sự vào cuộc của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Những kết quả đó đã tạo nền tảng quan trọng về tài nguyên, sản phẩm, thương hiệu, thị trường và sự tham gia của cộng đồng để Tuyên Quang bước vào giai đoạn phát triển mới.
Phát huy những kết quả đã đạt được, thời gian tới, UBND tỉnh sẽ tập trung chỉ đạo chuyển mạnh từ phát triển theo số lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh; nâng cao chất lượng sản phẩm, trải nghiệm, kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của du khách, đồng thời bảo đảm người dân được hưởng lợi từ phát triển du lịch.
Chúng tôi nhất quán quan điểm là “bảo tồn để phát triển, phát triển để bảo tồn”; phát huy giá trị di sản, văn hóa, cảnh quan và con người để đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển xanh và bền vững.

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Tuyên Quang hội tụ những giá trị đặc sắc của vùng đất “Thủ đô Khu giải phóng”, “Thủ đô Kháng chiến” và vùng địa đầu cực Bắc của Tổ quốc. Tỉnh xác định tầm nhìn, vị thế và giá trị khác biệt nào để xây dựng thương hiệu văn hóa - du lịch có sức cạnh tranh trên bản đồ quốc gia và quốc tế?
Ông Đỗ Hùng Đức: Việc hợp nhất, mở rộng không gian phát triển mang lại cho tỉnh lợi thế rất lớn. Tuyên Quang không đơn thuần cộng gộp các điểm đến, mà hội tụ 3 giá trị khác biệt cốt lõi: (1) Chiều sâu lịch sử - cách mạng của vùng đất “Thủ đô Khu giải phóng”, “Thủ đô Kháng chiến”. (2) Di sản địa chất, thiên nhiên đặc sắc như Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn hay lòng hồ Na Hang - Lâm Bình. (3) Bản sắc văn hóa phong phú của các dân tộc gắn với vùng địa đầu cực Bắc của Tổ quốc.
Trên nền tảng này, tỉnh định hướng xây dựng thương hiệu du lịch gắn với hai hình ảnh chủ đạo: “Thủ đô Kháng chiến” và “Miền đá nở hoa”. Chúng tôi không phát triển các điểm đến riêng lẻ, mà tổ chức lại thành những chuỗi hành trình trải nghiệm liên hoàn từ lịch sử, văn hóa đến thiên nhiên, ẩm thực. Có như vậy mới kéo dài được thời gian lưu trú, tăng mức chi tiêu của du khách và tạo sinh kế cho người dân.
Về tầm nhìn, Tuyên Quang phấn đấu trở thành điểm đến du lịch có thương hiệu, chất lượng và sức cạnh tranh trong khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, từng bước nâng cao vị thế trên bản đồ du lịch quốc gia và hướng tới thị trường quốc tế.
Để hiện thực hóa tầm nhìn đó, tỉnh sẽ tập trung: (1) đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông kết nối và hạ tầng tại các khu, điểm du lịch; (2) nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; (3) đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng khoa học công nghệ; (4) tăng cường liên kết với các địa phương, các trung tâm du lịch lớn trong nước và mở rộng hợp tác quốc tế; (5) chú trọng thu hút các nhà đầu tư chiến lược có năng lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quản trị để hình thành những sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao, tạo sức lan tỏa cho toàn ngành.
Qua đó, Tuyên Quang hướng tới bước chuyển căn bản: từ khai thác tài nguyên sang tạo dựng giá trị, từ điểm đến riêng lẻ sang hành trình có chiều sâu, từ thu hút số lượng sang nâng cao chất lượng trải nghiệm, để vùng đất này không chỉ là nơi du khách đến khám phá, mà còn là nơi để trải nghiệm, cảm nhận và mong muốn quay trở lại.

Đề án phát triển du lịch xác định ba trụ cột gồm kinh tế di sản, công nghiệp văn hóa và kinh tế cửa khẩu. Tỉnh sẽ tổ chức không gian, lựa chọn sản phẩm chủ lực và kết nối Tân Trào, Na Hang - Lâm Bình, Cao nguyên đá Đồng Văn như thế nào để chuyển hóa giá trị di sản thành những chuỗi trải nghiệm đặc sắc, có giá trị gia tăng cao, kéo dài thời gian lưu trú và nâng mức chi tiêu của du khách?
Ông Đỗ Hùng Đức: Theo định hướng của Đề án, tỉnh tổ chức không gian du lịch theo mô hình hệ sinh thái, các vùng bổ trợ lẫn nhau, chuyển mạnh từ việc “đến tham quan một điểm” sang “ở lại và trải nghiệm một hành trình”. Tỉnh phân vùng không gian và lựa chọn sản phẩm chủ lực rõ ràng, cụ thể: Tân Trào là không gian trọng tâm về văn hóa, lịch sử, cách mạng và lễ hội; tập trung phát triển các sản phẩm du lịch về nguồn, giáo dục truyền thống, trải nghiệm văn hóa và các hoạt động gắn với công nghiệp văn hóa.
Na Hang - Lâm Bình là không gian tập trung vào du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng lòng hồ, trải nghiệm thiên nhiên và du lịch cộng đồng. Cao nguyên đá Đồng Văn là không gian phát huy thế mạnh di sản địa chất, cảnh quan, văn hóa các dân tộc, du lịch cộng đồng và khám phá mạo hiểm.
Để chuyển hóa giá trị di sản thành chuỗi trải nghiệm có giá trị gia tăng cao, tỉnh tập trung 3 nhóm giải pháp kết nối:
(1) Kết nối sản phẩm và chuỗi trải nghiệm: Hình thành các tuyến, tour liên hoàn; kết nối di sản với văn hóa, ẩm thực, làng nghề, sản phẩm OCOP, lưu trú cộng đồng, giải trí và các hoạt động kinh tế đêm.
(2) Gắn kết kinh tế di sản với công nghiệp văn hóa và kinh tế cửa khẩu: Chuyển hóa di sản và sản vật địa phương thành sản phẩm, dịch vụ, chương trình nghệ thuật có khả năng tạo doanh thu cao; đồng thời khai thác lợi thế cửa khẩu để mở rộng thu hút khách quốc tế và phát triển các tuyến du lịch liên vận Việt Nam - Trung Quốc.
(3) Hoàn thiện đồng bộ hạ tầng dịch vụ: Tập trung đầu tư hạ tầng giao thông kết nối, cơ sở lưu trú, điểm dừng chân, hạ tầng số và các dịch vụ bổ trợ để đáp ứng tốt nhất nhu cầu nghỉ dưỡng, trải nghiệm, giải trí của du khách.
Mục tiêu cuối cùng là hình thành những chuỗi sản phẩm có câu chuyện, có trải nghiệm và có giá trị gia tăng, để du khách đến Tuyên Quang không chỉ để tham quan mà còn ở lại lâu hơn, trải nghiệm sâu hơn và chi tiêu nhiều hơn. Qua đó, vừa phát huy giá trị di sản, vừa tạo động lực cho các ngành dịch vụ, nông nghiệp đặc sản, thương mại, công nghiệp văn hóa và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng.

Theo ông, đâu là những điểm nghẽn lớn nhất trong quá trình chuyển hóa các giá trị di sản và bản sắc văn hóa thành nguồn lực phát triển du lịch và kinh tế? Tỉnh sẽ ưu tiên những quyết sách đột phá nào về thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực, chuyển đổi số và thu hút các nhà đầu tư chiến lược?
Ông Đỗ Hùng Đức: Tuyên Quang sở hữu tiềm năng du lịch rất phong phú và đặc sắc. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay là cần đẩy mạnh hơn nữa việc chuyển hóa các giá trị di sản, văn hóa, thiên nhiên thành những sản phẩm du lịch có chất lượng, sức cạnh tranh và giá trị gia tăng cao hơn, mang lại lợi ích thiết thực hơn cho người dân; đồng thời tăng cường sự kết nối đồng bộ giữa các vùng du lịch để tạo thành chuỗi giá trị liên hoàn.
Nhìn thẳng vào thực tế, những điểm nghẽn lớn hiện nay là: hạ tầng giao thông kết nối liên vùng và hạ tầng tại nhiều điểm đến, nhất là khu vực vùng cao, biên giới còn thiếu đồng bộ; sản phẩm du lịch còn trùng lặp, chưa có nhiều sản phẩm đặc trưng, cao cấp, du lịch còn mang tính mùa vụ; nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực tại cộng đồng, còn thiếu và hạn chế về kỹ năng; cơ sở lưu trú, dịch vụ chất lượng cao còn ít, chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư chiến lược; liên kết giữa các địa phương, doanh nghiệp và ứng dụng chuyển đổi số còn rời rạc.
Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới, với yêu cầu chuyển mạnh mô hình phát triển từ phát triển theo số lượng sang chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng, từ thực tiễn của Tuyên Quang, UBND tỉnh xác định 5 nhóm giải pháp trọng tâm, có tính đột phá cần tập trung chỉ đạo thực hiện.
Thứ nhất, về thể chế và nguồn lực: Cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy hoạch; tháo gỡ điểm nghẽn về đất đai, đầu tư, xây dựng. UBND tỉnh sẽ tham mưu, trình HĐND tỉnh ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển du lịch, nhất là du lịch cộng đồng và sản phẩm du lịch đặc trưng. Chính quyền các cấp làm tốt vai trò kiến tạo, hoàn thiện hạ tầng thiết yếu và cải cách thủ tục; khơi thông nguồn lực xã hội để doanh nghiệp thực sự là lực lượng tiên phong tạo ra sản phẩm và thị trường.
Thứ hai, về hạ tầng và tổ chức không gian du lịch: Ưu tiên kết nối giao thông đến các khu, điểm du lịch; đồng thời đầu tư đồng bộ hạ tầng tại điểm đến, cơ sở lưu trú, dịch vụ, bến thủy, điểm dừng chân, hệ thống thông tin, vệ sinh môi trường và các thiết chế phục vụ du khách.
Thứ ba, về nguồn nhân lực và chất lượng sản phẩm: Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực về nghiệp vụ, ngoại ngữ, kỹ năng phục vụ, quản trị điểm đến và ứng dụng công nghệ; đặc biệt là đào tạo chính người dân tại các cộng đồng du lịch để họ vừa là chủ thể văn hóa, vừa là người trực tiếp hưởng lợi từ du lịch. Đồng thời, tạo ra những sản phẩm thực sự khác biệt (du lịch về nguồn, du lịch di sản địa chất, sinh thái, cộng đồng, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe, lễ hội và các sản phẩm gắn với công nghiệp văn hóa, nông nghiệp, OCOP, ẩm thực và kinh tế đêm).
Thứ tư, về chuyển đổi số: Xây dựng hệ sinh thái du lịch thông minh; số hóa tài nguyên, điểm đến, lễ hội, sản phẩm, dịch vụ để du khách tìm hiểu, lựa chọn, đặt dịch vụ và thanh toán thuận tiện. Khai thác dữ liệu du lịch để hiểu rõ thị trường, nâng cao năng lực quản trị điểm đến và hỗ trợ doanh nghiệp.
Thứ năm, về thu hút các nhà đầu tư chiến lược: Ưu tiên những nhà đầu tư có năng lực tài chính, công nghệ, kinh nghiệm quản trị và tầm nhìn dài hạn để hình thành các khu du lịch, hệ sinh thái dịch vụ chất lượng cao, tạo sức lan tỏa cho các doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã, hộ kinh doanh và cộng đồng.
Đặc biệt, quan điểm xuyên suốt của tỉnh là không đánh đổi di sản, cảnh quan và môi trường để lấy tăng trưởng trước mắt.
Tôi kỳ vọng việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ tạo chuyển biến căn bản: từ "có tài nguyên" sang "có sản phẩm có giá trị"; từ khai thác đơn lẻ sang hình thành chuỗi giá trị, để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Tuyên Quang, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tạo sinh kế bền vững cho người dân, đồng thời gìn giữ trọn vẹn các giá trị văn hóa, lịch sử và thiên nhiên cho các thế hệ mai sau.

Đến năm 2030, Tuyên Quang đặt mục tiêu đón 6 triệu lượt khách, tổng chi tiêu từ khách du lịch đạt khoảng 16.300 tỷ đồng, du lịch đóng góp trên 10% GRDP và doanh thu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 5% GRDP. Bên cạnh các chỉ tiêu tăng trưởng, thành công của chiến lược phát huy giá trị di sản sẽ được đo lường như thế nào để bảo đảm di sản được gìn giữ, bản sắc được trao truyền, môi trường được bảo vệ và người dân thực sự được hưởng lợi?
Ông Đỗ Hùng Đức: Các chỉ tiêu về lượt khách hay doanh thu là những mục tiêu quan trọng, nhưng chưa phải là thước đo duy nhất. Thành công thực sự của chiến lược phát triển du lịch Tuyên Quang cần được đo lường toàn diện qua 5 nhóm tiêu chí:
Thứ nhất, di sản phải được bảo tồn và phát huy đúng giá trị. Chúng tôi không chỉ đo bằng số lượng di tích được tu bổ, mà phải quan tâm đến tính nguyên gốc, tính toàn vẹn của di sản, khả năng duy trì các giá trị văn hóa truyền thống và mức độ phát huy di sản trong đời sống cộng đồng. Mục tiêu là di sản được khai thác nhưng không bị biến dạng, thương mại hóa quá mức hoặc mất đi bản sắc vốn có.
Thứ hai, bản sắc văn hóa phải tiếp tục được trao truyền. Thành công không chỉ là có thêm sản phẩm du lịch, mà còn phải tạo điều kiện để các lễ hội, nghề truyền thống, nghệ thuật dân gian, tri thức bản địa, tiếng nói, chữ viết và những giá trị văn hóa của các dân tộc được gìn giữ và truyền lại cho thế hệ trẻ. Người dân phải thực sự là chủ thể của văn hóa, chứ không chỉ là người cung cấp dịch vụ cho du khách.
Thứ ba, môi trường và cảnh quan phải được bảo vệ. Chúng tôi sẽ quan tâm đến sức chịu tải của từng điểm đến, chất lượng môi trường, xử lý rác thải, nước thải, sử dụng tài nguyên và mức độ xanh hóa các hoạt động du lịch. Không thể vì tăng trưởng du lịch trước mắt mà làm suy giảm những giá trị thiên nhiên vốn là nền tảng của chính ngành du lịch.
Thứ tư, người dân phải thực sự được hưởng lợi. Đây là một tiêu chí rất quan trọng. Chúng tôi sẽ quan tâm đến việc làm, thu nhập, sinh kế của người dân; mức độ tham gia của cộng đồng vào chuỗi cung ứng du lịch; sự phát triển của các hộ kinh doanh, hợp tác xã, doanh nghiệp địa phương và các sản phẩm OCOP. Khi người dân có thu nhập tốt hơn từ di sản và du lịch, họ sẽ có thêm động lực để cùng Nhà nước gìn giữ những giá trị đó.
Thứ năm, du lịch phải phát triển hiệu quả, có chất lượng. Thước đo không chỉ là số lượng khách, mà còn là thời gian lưu trú, mức chi tiêu, mức độ hài lòng, tỷ lệ khách quay trở lại, chất lượng sản phẩm và mức độ đóng góp của du lịch vào các ngành kinh tế khác.
Để đánh giá thực chất, UBND tỉnh sẽ chỉ đạo xây dựng bộ chỉ số theo dõi, đánh giá phát triển du lịch bền vững gắn với 5 nhóm tiêu chí trên; tăng cường thu thập, khai thác dữ liệu du lịch, định kỳ khảo sát mức độ hài lòng của du khách và ý kiến của cộng đồng; công khai kết quả đánh giá để kịp thời điều chỉnh cơ chế, chính sách.
Nói cách khác, chúng tôi muốn chuyển từ cách đánh giá “du lịch phát triển bao nhiêu” sang “du lịch tạo ra giá trị gì”. Một điểm đến được xem là thành công khi vừa thu hút được du khách, vừa bảo tồn được di sản, giữ được bản sắc, bảo vệ được môi trường và tạo ra sinh kế bền vững cho cộng đồng.
Đó cũng chính là tinh thần “bảo tồn để phát triển, phát triển để bảo tồn”. Tuyên Quang không hướng tới tăng trưởng bằng mọi giá, mà hướng tới một mô hình du lịch chất lượng, xanh, bền vững và bao trùm, trong đó thành quả phát triển hôm nay phải trở thành nguồn lực để bảo tồn di sản và nâng cao đời sống Nhân dân hôm nay và cho các thế hệ mai sau.
Trân trọng cảm ơn ông!