Báo Đại Đoàn Kết Dân tộc

Vẻ đẹp của những chiếc khăn

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Vẻ đẹp của những chiếc khăn

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Khăn không chỉ là phụ kiện trang sức dành cho phái đẹp, mà trong nhiều trường hợp còn được dùng cho cả nam giới. Có nhiều loại khăn truyền thống cho tới ngày nay vẫn có sức quyến rũ bởi vẻ đẹp mộc mạc lại có phần bí ẩn. Trong rất nhiều loại khăn, không thể không nói đến khăn Piêu, khăn Rằn và khăn Mỏ quạ.

Liền chị Quan họ duyên dáng với khăn Mỏ quạ

1. Khăn Piêu được coi là vật dụng trang sức không thể thiếu của các cô gái Thái, Xá vùng núi Tây Bắc. Khăn Piêu cũng được coi là sự thể hiện tình yêu trai gái trong đời sống tình cảm của người Thái, khi yêu nhau nhờ chiếc khăn Piêu nói hộ lòng mình. Khăn dành cho phụ nữ, nhưng khi xa nhau, cô gái lại tặng cho chàng trai chiếc khăn Piêu như một kỉ vật. Chiếc khăn Piêu trở thành cầu nối tình yêu của họ, bất chấp không gian và thời gian.
Bà con người Thái có một bài ca dao về chiếc khăn Piêu:
Em xe sợi thành vóc hoa dâu
Em dệt cửi thành gấm vân chéo
Em dệt tơ thành đoá hoa vàng
Người các bản các phường muốn khóc
đều ước ao được em thêu khăn...

Không cô gái nào không biết thêu khăn Piêu. Tình cảm của họ dồn vào đường kim và những sợi chỉ màu.

Khăn Piêu được dệt bằng bông, nhuộm chàm, thêu hoa văn với các loại chỉ màu ở hai đầu khăn. Một cô gái khéo tay làm một chiếc khăn Piêu cũng mất cả tháng. Nhìn vào khăn, người ta có thể biết cô gái đó chăm chỉ hay làm biếng, có khéo tay không, có tinh tế không.
Ngày nay cuộc sống nhiều đổi thay nhưng phụ nhữ Thái trong các bản làng vẫn đội khăn Piêu. Bởi chiếc khăn Piêu không chỉ che đầu khi nắng gió, làm ấm khi mùa đông giá lạnh mà cái chính nó là vật trang sức quan trọng của các cô gái Thái. Với đồng bào Thái đen, khăn Piêu còn thể hiện cho thần linh che chở trên đầu - vì đầu là phần quan trọng nhất, điều khiển tất cả những bộ phận của con người. Đáng chú ý, kể cả khi trong nhà có tang khăn Piêu cũng được dùng làm lễ vật mang theo người mất và con cháu cũng phải đội khăn Piêu trong đám ma. Chiếc khăn Piêu khi ấy như vật chỉ đường cho linh hồn người đã mất tìm được lối về thế giới bên kia.
Tới nay, do vẻ đẹp độc đáo, khăn Piêu đã trở thành sản phẩm du lịch, được du khách trong và ngoài nước ưa thích.

2. Chiếc khăn Rằn Nam Bộ có từ bao giờ? Câu trả lời vẫn chưa thật rõ ràng, chỉ biết rằng theo thời gian nó càng được lan truyền rộng rãi. Không chỉ người miền Tây Nam Bộ ưa thích, mà cả người Hà Nội, người Huế cũng thích. Khách nước ngoài đến Việt Nam cũng thích chiếc khăn Rằn.
Người ta cho rằng, chiếc khăn Rằn bắt đầu từ người Khmer, nhưng đã được biến đổi cho phù hợp với bà con sống ở miền sông nước Nam Bộ. Cùng với khăn Rằn là chiếc áo bà ba, đã làm nên đặc điểm trang phục của đồng bào Nam Bộ. Cụ thể hơn, nó là biểu tượng cho người phụ nữ Đồng bằng sông Cửu Long cần cù, mộc mạc mà duyên dáng. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, khăn rằn gắn liền với những người du kích, với những chiến công lẫy lừng…
Khăn Rằn có vẻ đẹp hiện đại, có nghĩa là màu sắc tiết giảm đến hết mức, bố cục họa tiết lại mạch lạc, khỏe khoắn. Nguyên gốc, khăn Rằn chỉ có hai màu đen và trắng, hoặc nâu và trắng. Sau này, khi cách điệu, màu của nó cũng chỉ có màu hồng nhạt và màu trắng, do màu này được cho là gần với người trẻ. Do các đường ngang dọc cắt nhau liên tiếp, nên có thể vì thế mà người ta gọi là khăn Rằn chăng? Một chiếc khăn Rằn truyền thống có chiều dài khoảng 1,2 m, rộng chừng 40-50 cm. Sau này, người ta làm dài hơn để tăng tính “phủi” được giới trẻ ưa thích.

Người hâm mộ tặng các cầu thủ AS Roma chiếc khăn Rằn như biểu hiện của sự thân thiện

Khăn Rằn có thể dùng khi đi hội, đi làm việc trên ruộng đồng, ngày nóng cũng dùng được mà mát trời cũng quàng cổ. Nó là vật dụng tiện lợi và thân thiết cho mọi người, mọi giới.
Khăn Rằn ngày càng được cách điệu do sự thông dụng và được ưa chuộng của nó. Tuy nhiên, cách điệu cách nào, làm mới cách nào thì cũng không đi quá xa nguồn gốc. Chính vì thế, nó đã không bị làm hỏng, mà chỉ trở nên đẹp hơn.

3. Khăn Mỏ quạ và áo tứ thân, nón ba tầm là hình ảnh rất đẹp của người phụ nữ Kinh Bắc xưa. Tới nay, cũng ít người còn vấn khăn Mỏ qua, cũng như áo tứ thân và nón ba tầm chỉ xuất hiện trong ngày hội, hay là trên sân khấu. Tuy thế, hình ảnh rất đẹp ấy thì vẫn mãi còn đó, vì nó đã trở thành một giá trị văn hóa.

Nhạc sĩ Dân Huyền từng viết, dù là canh hát quan họ xưa hay mỗi lần biểu diễn trên sân khấu bây giờ, ngoài chiếc nón ba tầm, áo tứ thân, thì các liền chị Quan họ vẫn không quên chít khăn Mỏ quạ trên đầu. “Khi chít khăn phải cân đối trên trán, sao cho cái hình mỏ quạ ấy phải đúng giữa, không bị xô lệch. Cùng với giọng hát tròn vành rõ chữ, nảy giòn hơi hạt, thì hình ảnh khăn Mỏ quạ với đôi mắt lúng liếng, miệng cười có duyên… cứ vương vấn mãi trong lòng người thưởng thức hát Quan họ”.

Để chít khăn Mỏ quạ cho đẹp, cho đúng cách trước tiên phải biết cuốn tóc trong một khăn vấn tóc, xếp vòng tròn lại và đặt ngay ngắn lên đầu, hơi xệ và hình bầu dục về phía gáy, ghim lại. Chiếc khăn vuông được gấp chéo thành hình tam giác, bẻ hình mỏ quạ chính giữa đường ngôi trên đầu, bắt hai góc khăn về hai phía tai rồi thắt múi ở gáy. Khó là vậy và cũng khá cầu kỳ, nên không phải cô gái nào cũng có thể vấn được khăn Mỏ quạ.
Tới nay, cho dù rất ít người sử dụng khăn Mỏ quạ hàng ngày, kể cả các cụ bà lớn tuổi vùng Kinh Bắc, nhưng hình ảnh của nó vẫn còn đó, như biểu hiện của một đặc trưng văn hóa bền vững.

Bắc Phong (tổng hợp)