Việc đầu tiên là việc con người
Bên cạnh việc quan tâm đến nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở công tác xây dựng Đảng. Người nêu rõ trong Di chúc: “Theo ý tôi, việc cần làm trước tiên là chỉnh đốn Đảng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Mỗi dịp thu về, niềm vui tháng Tám cách mạng lại hòa cùng nỗi nhớ thương Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Cũng vào ngày này năm 1969, Người đi về cõi vĩnh hằng, để lại bản Di chúc thiêng liêng với “muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng”1.
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ở vào giai đoạn quyết liệt trên cả hai miền Nam Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng. Người khẳng định “Tổ quốc ta nhất định thống nhất, đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà”. Lời tiên đoán đã trở thành sự thực hào hùng vào mùa xuân năm 1975, đất nước hòa bình, non sông liền một giải.
Ngay trong khói lửa của cuộc chiến tranh tàn khốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự tính đến công cuộc xây dựng sau ngày thắng lợi. Người viết:
“Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng gấp mười ngày nay”.
Để xây dựng đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, “gấp mười ngày nay”, Người vạch ra những công việc cần làm, tập trung vào 3 nhiệm vụ chính bao gồm: chuẩn bị mọi mặt để thống nhất Tổ quốc, mau chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa. Người nhắc nhở: “Chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm”.
Người dành hẳn một đoạn: “Ở đây nói về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh”. Người chỉ ra những việc cần làm về kinh tế, vệ sinh, y tế, giáo dục và quốc phòng. Bản kế hoạch vừa bao quát, vừa tỉ mỉ cho thấy sự quan tâm lớn lao của Người đối với sự phát triển của đất nước và đời sống của nhân dân sau chiến tranh.
Trong bản Di chúc cũng như trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt hết tâm trí vào việc phục vụ nhân dân. Giữa bộn bề công việc, Người nhấn mạnh: Đầu tiên là công việc đối với con người. Người vạch ra chính sách sau chiến tranh đối với những người đã đóng góp phần xương máu cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất Tổ quốc cũng như đối với tất cả các tầng lớp trong xã hội. Đây là một dự án tỉ mỉ tính đến từng đối tượng: từ thương binh, gia đình liệt sĩ đến thanh niên xung phong, phụ nữ, nông dân…
Sự chăm sóc của Người vừa có ý nghĩa đền đáp những hy sinh trong kháng chiến, vừa tạo điều kiện công ăn việc làm và đào tạo, bồi dưỡng cho họ năng lực góp phần xây dựng đất nước. Người đưa ra dự kiến miễn thuế nông nghiệp một năm cho hợp tác xã “để đồng bào hỉ hả, mát dạ mát lòng, thêm niềm phấn khởi đẩy mạnh sản xuất”.
Qua đây, nổi bật quan điểm nhân dân, một điểm sáng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, được thể hiện trên hai mặt:
Một là niềm tin vào nhân dân, thấy hết sức mạnh của nhân dân, “nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù” và sự gắn kết giữa nhân dân với Đảng: “Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng”.
Hai là nhiệm vụ chăm lo cho nhân dân đúng như điều Người đã nhiều lần bày tỏ: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”2.
Quan điểm nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh nổi lên rất rõ ràng, vừa nặng lý trí, vừa đậm tình cảm. Nhân dân được nhìn từ hai phía: vừa là động lực, là nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi, nguồn lao động tạo dựng nên xã hội mới; đồng thời là đối tượng phục vụ của cách mạng, cách mạng phải bảo đảm cho họ quyền làm chủ, quyền tự do, quyền hưởng những lợi ích vật chất và tinh thần do chính họ làm ra.
Đồng thời, nhân dân cũng là người kiểm định công tâm phẩm chất của cán bộ, đảng viên cũng như thẩm định nghiêm khắc tính đúng đắn của các chính sách và việc thi hành chính sách. Cho nên, trong hoàn cảnh chiến tranh cũng như hòa bình, chỉ có thực sự coi trọng người dân, dựa vào nhân dân, phát động nhân dân, mang lại quyền lợi cho nhân dân thì mới phát huy sức mạnh vô địch trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bên cạnh việc quan tâm đến nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở công tác xây dựng Đảng. Người nêu rõ trong Di chúc: “Theo ý tôi, việc cần làm trước tiên là chỉnh đốn Đảng”. Người chỉ ra ba việc cần làm để chỉnh đốn Đảng, đó là đoàn kết nội bộ, bồi dưỡng đạo đức cách mạng và chống thói hư tật xấu.
Vấn đề đoàn kết chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong Di chúc. Người nhấn mạnh “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta”. Mọi đảng viên từ trung ương đến chi bộ đều phải giữ gìn sự đoàn kết. Thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên phê bình và tự phê bình là biện pháp tốt nhất để củng cố và tăng cường đoàn kết. Trong bản thảo, bên dòng chữ đánh máy, Người ghi thêm một dòng viết tay: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.
Lời nhắc nhở “tình đồng chí thương yêu” đi vào lòng người, khơi dậy tình cảm sâu nặng trong mỗi con người để từ đó giải quyết những khúc mắc mà nếu chỉ có cái lý thôi thì dù đúng cũng chưa hẳn đã thành công.
Nhiệm vụ chỉnh đốn Đảng phải nhằm vào việc gìn giữ và rèn luyện đạo đức cách mạng. Hai lần trong Di chúc, chữ “đạo đức cách mạng” được nhấn mạnh, in nghiêng. Người lưu ý rằng Đảng ta là Đảng cầm quyền, đoàn viên thanh niên là người kế thừa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nên việc bồi dưỡng cho đời sau là “vô cùng quan trọng và cần thiết”. Nội dung đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; là sự trong sạch của Đảng cho xứng với cương vị người lãnh đạo và là người đầy tớ trung thành của nhân dân.
Người đã thấy trước việc thực hiện kế hoạch thời hậu chiến, chống lại thói hư tật xấu “là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ hư hỏng để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi”. Đứng trước “cuộc chiến đấu khổng lồ này”, Người đặt niềm tin vào nhân dân và đề ra nhiệm vụ “cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.
Quả là những điều dự báo thiết thực, những lời cảnh tỉnh nghiêm khắc. Đã có biết bao tấm gương lao động sáng tạo vươn lên tự hoàn thiện bản thân mình, góp phần vào thành công của công cuộc Đổi mới. Những thành tựu đạt được ngày nay chính là nhờ vào công sức của quần chúng nhân dân từ những cải tiến của bao người nông dân tiên tiến, những sáng kiến của đội ngũ công nhân hiện đại đến những phát minh của đông đảo trí thức luôn tiếp cận với cái mới cũng như những đóng góp của các nhà doanh nghiệp đầy năng động.
Nhưng ngược lại, trong cuộc đấu tranh cho một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh cũng có không ít người đã từng dũng mãnh trong lửa đạn nay lại đầu hàng trước sự cám dỗ của đồng tiền, không vượt được những tính toán sai lầm để rơi vào vòng phạm pháp, xa rời quần chúng, cấu thành tầng lớp quan liêu tham nhũng. Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ những ngày đầu của Nhà nước Dân chủ Cộng hòa đã từng cảnh báo về thói hư tật xấu của các “quan cách mạng”, “quan cán bộ”.
Nhiều vị “quan” này đã vi phạm pháp luật, lần lượt ra trước vành móng ngựa với các chức vụ trước khi bị tước bỏ là cán bộ lãnh đạo các cấp chính quyền, là những người nắm cương vị chủ chốt trong bộ máy công quyền. Luật pháp đã trừng trị họ song đau xót thay khi biết rằng trước đó họ đã từng là những đảng viên trong sáng, những cán bộ mẫu mực, những chiến sĩ kiên cường. Rõ ràng “cuộc chiến đấu khổng lồ” mà Bác cảnh báo thật sự không kém phần gian nan và không loại trừ một ai.
Điều đó không chỉ nhằm làm trong sạch đội ngũ mà còn có tác động quan trong đến sự tồn vong của chế độ, sự vững mạnh của quốc gia. Cho nên cùng với nhiệm vụ nâng cao chất lượng chính trị tư tưởng, Đảng luôn nhấn mạnh nhiệm vụ “kiên quyết khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên”.3
Nhìn lại gần năm mươi năm thực hiện Di chúc của Bác Hồ, mỗi người Việt Nam chúng ta đều tự hào là đã góp phần vào những thành tựu chung của công cuộc Đổi mới. Nhưng chặng đường phía trước còn lắm chông gai, còn nhiều thách thức. Đúng như lời Bác dặn, “Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa”, song bao trùm hơn cả, cốt lõi hơn cả chính là hai điều Người nhắc nhở:
“Đầu tiên là công việc đối với con người”
“Việc cần làm trước tiên là chỉnh đốn Đảng”.
Đó là hai vấn đề mấu chốt nói lên mối quan hệ giữa nhân dân và Đảng, là nhiệm vụ cần được thực hiện trước tiên, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng nói chung, của công cuộc Đổi mới nói riêng. Đại hội Đảng lần thứ XI nhấn mạnh: “Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc” mà ở đó, Mặt trận Tổ quốc “phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân thực hiện quyền dân chủ, giám sát và phản biện xã hội tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh…”4
Thời gian sẽ qua đi, song tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện trong Di chúc mãi mãi chỉ đường cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tiến lên xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tuyên ngôn độc lập-Giá trị dân tộc và thời đại Sáng 28/8, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Cục lưu trữ Văn phòng TƯ Đảng, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch và Viện Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học “Tuyên ngôn Độc lập-Giá trị dân tộc và thời đại”. Phát biểu tại hội thảo PGS.TS Phạm Ngọc Anh, Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho biết, cách đây 70 năm với lực lượng cách mạng đã được tổ chức, chuẩn bị chu đáo, chớp thời cơ “ngàn năm có một”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã vùng dậy, tiến hành Tổng khởi nghĩa thành công lập ra chính quyền cách mạng trên toàn quốc. Sau khi cách mạng giành được thắng lợi, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, nhằm tuyên bố với đồng bào trong cả nước và nhân dân thế giơi về nền độc lập của Việt Nam và sự ra đời của nước Việt Nam mới. Tuyên ngôn Độc lập đã nêu lên những giá trị của văn minh nhân loại, những “lẽ phải không ai chối cãi được” về quyền con người, quyền dân tộc; đồng thời lên án đanh thép tội ác của chế độ thực dân, phát xít ở Việt Nam, từ đó khẳng định lẽ phải và chính nghĩa của dân tộc Việt Nam về quyền hưởng tự do, độc lập. Hội thảo là dịp để chúng ta tìm hiểu, nhận thức sâu sắc hơn về nội dung, ý nghĩa và giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đối với thời điểm lịch sử ra đời, mà còn đối với công cuộc đổi mới hiện nay; không chỉ có giá trị đối với lịch sử dân tộc Việt Nam mà còn đối với thời đại. Trước khi diễn ra hội thảo, Ban Tổ chức cũng đã cắt băng khai mạc triển lãm “70 năm xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh”. N.Khánh |
GS. NGND Vũ Dương Ninh
(Đại học Quốc gia Hà Nội)