Xã hội hóa giáo dục cần đi vào chiều sâu
Hệ thống giáo dục ngoài công lập ngày càng mở rộng, cùng hàng trăm dự án xã hội hóa được triển khai trên cả nước, góp phần bổ sung nguồn lực đầu tư và giảm áp lực cho hệ thống công lập. Tuy nhiên, theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT), kết quả xã hội hóa vẫn chưa tương xứng tiềm năng, khi nguồn lực chủ yếu tập trung tại đô thị và những phân khúc thuận lợi.

Hơn 4.500 cơ sở giáo dục ngoài công lập
Những năm qua, xã hội hóa giáo dục đã góp phần đa dạng hóa loại hình trường học, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục và huy động thêm nguồn lực cho phát triển cơ sở vật chất.
Theo thống kê của Bộ GDĐT, cả nước hiện có 3.256 trường mầm non ngoài công lập; 871 trường phổ thông, gồm 167 trường tiểu học, 120 trường THCS và 584 trường THPT. Ở bậc đại học có 67 trường ngoài công lập, trong khi giáo dục nghề nghiệp có 325 trường.
Sự phát triển này cho thấy khu vực ngoài công lập đã hiện diện ở hầu hết các cấp học, trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đặc biệt, tại các đô thị đông dân, trường ngoài công lập góp phần bổ sung chỗ học, giảm áp lực tuyển sinh và đầu tư trường lớp cho ngân sách nhà nước.
Không chỉ phát triển hệ thống trường học, nguồn lực xã hội hóa còn trực tiếp đóng góp vào xây dựng cơ sở vật chất. Năm 2025, có 28/34 tỉnh, thành phố báo cáo 348 dự án xã hội hóa giáo dục, với tổng vốn đầu tư trên 10.000 tỷ đồng.
Đáng chú ý, nguồn vốn xã hội hóa đã hỗ trợ xây dựng khoảng 36.000 phòng học và 1.300 phòng công vụ cho giáo viên, với tổng kinh phí quy đổi ước tính khoảng 33.000 tỷ đồng.
Những con số này cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của nguồn lực ngoài ngân sách trong giải quyết nhu cầu trường lớp, cải thiện điều kiện dạy học và hỗ trợ đội ngũ giáo viên. Trong bối cảnh nhu cầu đầu tư giáo dục ngày càng lớn, việc huy động doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân tham gia được xem là kênh bổ sung quan trọng cho nguồn lực công.
Theo Thứ trưởng Bộ GDĐT Đoàn Trung Kiên, hệ thống cơ sở giáo dục ngoài công lập đã phát triển mạnh về quy mô và loại hình, góp phần giảm áp lực cho hệ thống công lập. Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
Một trong những hạn chế nổi bật là mức độ xã hội hóa có sự chênh lệch lớn giữa các cấp học và địa bàn. Nguồn lực đầu tư chủ yếu tập trung ở đô thị và những phân khúc có điều kiện thuận lợi, trong khi các khu vực khó khăn, nơi nhu cầu bổ sung cơ sở vật chất còn lớn, chưa thu hút được nhiều dự án.
Điều này đặt ra bài toán về hiệu quả phân bổ nguồn lực. Nếu đầu tư xã hội hóa chủ yếu hướng đến những khu vực có khả năng sinh lời cao, khoảng cách về điều kiện học tập giữa các vùng miền có thể tiếp tục tồn tại.
Bên cạnh đó, Bộ GDĐT cho rằng chưa hình thành đầy đủ cơ chế để nguồn lực, công nghệ, năng lực quản trị và nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình hiện đại hóa giáo dục.
Như vậy, xã hội hóa không chỉ là câu chuyện huy động vốn xây trường, mở trường tư thục, mà còn cần mở rộng sang hợp tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, đổi mới phương pháp đào tạo và kết nối giáo dục với thị trường lao động.
Đặc biệt, với giáo dục nghề nghiệp và đại học, sự tham gia của doanh nghiệp có thể góp phần rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thực tế, giúp người học tiếp cận công nghệ, kỹ năng và môi trường làm việc ngay trong quá trình học tập.
Không chỉ tăng vốn, cần nâng hiệu quả xã hội hóa
Một bước điều chỉnh đáng chú ý là ngày 10/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1255/QĐ-TTg về danh mục loại hình, tiêu chí quy mô và tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo.
Văn bản quy định các cơ sở giáo dục đáp ứng điều kiện về loại hình, quy mô và tiêu chuẩn được hưởng chính sách khuyến khích phát triển xã hội hóa theo quy định. Đây là căn cứ quan trọng nhằm cụ thể hóa điều kiện thụ hưởng chính sách, tạo cơ sở cho việc triển khai đầu tư trong lĩnh vực giáo dục.
Trước đó, tháng 3/2026, Chính phủ cũng đề cập việc đẩy mạnh xã hội hóa thông qua hợp tác công tư, liên kết dạy ngoại ngữ, hướng tới mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Đây là ví dụ cho thấy nguồn lực xã hội có thể tham gia không chỉ vào xây dựng cơ sở vật chất mà còn trực tiếp hỗ trợ đổi mới hoạt động dạy và học.
Từ thực tế triển khai, yêu cầu đặt ra trong thời gian tới là chuyển từ huy động nguồn lực đơn thuần sang phát huy toàn diện vai trò của xã hội trong phát triển giáo dục. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế ưu đãi, tháo gỡ những vướng mắc về đất đai, đầu tư và thủ tục hành chính, tạo điều kiện để các tổ chức, doanh nghiệp tham gia. Đồng thời, chính sách cần tính đến đặc thù từng địa bàn, khuyến khích đầu tư vào những khu vực còn thiếu trường lớp và những cấp học chưa thu hút được nhiều nguồn lực.
Mặt khác, việc huy động nguồn lực xã hội phải đi đôi với kiểm soát chất lượng, minh bạch tài chính và bảo đảm quyền lợi người học. Đối với các dự án hợp tác công tư, cần xác định rõ trách nhiệm của từng bên, cơ chế sử dụng tài sản và hiệu quả đầu tư.
Quan trọng hơn, xã hội hóa cần gắn với mục tiêu công bằng trong tiếp cận giáo dục, tránh để khả năng chi trả trở thành rào cản đối với người học. Nguồn lực xã hội chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi vừa bổ sung năng lực cho hệ thống giáo dục, vừa góp phần nâng cao chất lượng và mở rộng cơ hội học tập.