Báo Đại Đoàn Kết Xã hội

Xã hội hóa nghề rừng để bảo vệ rừng

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Xã hội hóa nghề rừng để bảo vệ rừng

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam đã thu được gần 6.000 tỷ đồng. Đây là nguồn tài chính quan trọng, đóng góp rất lớn vào công tác bảo vệ phát triển rừng, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ 5 triệu ha rừng. Nguồn lực này đã thúc đẩy được một bước trong công tác xã hội hóa nghề rừng để bảo vệ phát triển rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên.

Dịch vụ môi trường rừng tạo điều kiện cho người dân tham gia giữ rừng tốt hơn.

Thông tin này được đưa ra tại hội thảo “Tham vấn quốc gia đánh giá 8 năm tổ chức hoạt động Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng và 5 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng”, tổ chức ngày 5-10

Ông Nguyễn Bá Ngãi - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, sau 5 năm triển khai, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, tạo lập được nguồn lực tài chính mới, ổn định, bền vững phục vụ cho công tác quản lý bảo vệ rừng, góp phần nâng cao đáng kể đời sống người dân gắn bó với rừng.

Thực tế cho thấy, ở đâu người dân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng thì ở đó rừng được bảo vệ tốt hơn. Thay vì chặt cây, đốt rừng làm nương rẫy, săn bắt động vật hoang dã trái phép thì người dân sẽ có nguồn thu từ chính sách kể trên. Nhiều ý kiến tại hội nghị thống nhất cho rằng, phải xã hội hóa mạnh hơn nữa việc người dân được hưởng lợi từ chính sách bảo vệ rừng, từ đó có thể giữ được rừng.

Tính đến hết 30/6, cả nước đã có 41 tỉnh thành lập Quỹ Bảo vệ phát triển rừng, trong đó có 38 tỉnh đã ổn định được tổ chức bộ máy hoạt động, ký kết được 464 hợp đồng ủy thác dịch vụ môi trường rừng với các cơ sở sử dụng dịch vụ này với số tiền thu được hằng năm trên 1.000 tỷ đồng, lũy kế đến nay đã thu được hơn 5.744 tỷ đồng từ 3 nhóm đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng là thủy điện (97,25%); nước sạch (2,59%); tỉ lệ giải ngân bình quân chung đến các chủ rừng đạt khoảng 87%. Đây là nguồn tài chính quan trọng, đóng góp rất lớn vào công tác bảo vệ phát triển rừng, nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ 5 triệu ha rừng.

Chính sách cũng đã góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người làm nghề rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa với mức thu nhập bình quân hằng năm của các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng từ chính sách này đạt 2 triệu đồng/hộ/năm. Không những vậy, nguồn tiền từ dịch vụ bảo vệ phát triển rừng đã góp phần tháo gỡ khó khăn về kinh phí hoạt động cho 199 ban quản lý rừng, 84 công ty lâm nghiệp trong bối cảnh Chính phủ có chủ trương dừng khai thác gỗ tự nhiên.

Bên cạnh những mặt tích cực, theo Tổng cục Lâm nghiệp, thì quá trình thực hiện chính sách này cũng đã và đang bộc lộ một số tồn tại, nhất là trong công tác chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện. Cụ thể như việc huy động hệ thống chính trị, các cấp chính quyền tại một số địa phương chưa thực sự quyết liệt, thiếu gắn kết, thiếu nguồn lực thực thi chính sách. Bên cạnh đó, một số địa phương còn chậm triển khai, chưa hoàn thành việc rà soát, xác định ranh giới, diện tích rừng đến từng chủ rừng, làm ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng đến các chủ rừng.

Chủ trương của Đảng, Nhà nước về xã hội hóa nghề rừng để bảo vệ phát triển rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên là chủ trương nhất quán và xuyên suốt từ nhiều năm nay. Trong đó, chi trả dịch vụ môi trường rừng là một chính sách đúng đắn, có hiệu quả để thực hiện chủ trương bảo vệ phát triển rừng. Tuy nhiên, chính sách này cần được hoàn thiện để ngày càng phát huy hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho cộng đồng người trồng rừng trên cả nước.

Nông dân phải là lực lượng chính trong bảo vệ rừng

Theo TS Elisabeth Simelton- người Thụy Điển, chuyên gia về biến đổi khí hậu ở Việt Nam thì Việt Nam có diện tích rừng tự nhiên lớn, nên việc huy động nhân lực đủ để bảo vệ rừng khỏi bị xâm hại bởi những kẻ buôn lậu gỗ và lâm tặc là thách thức lớn. Chính vì thế cần huy động người dân, đặc biệt là nông dân, vào việc giữ rừng bằng các cơ chế, chính sách khuyến khích. Tuy nhiên, theo TS Simelton, dịch vụ môi trường rừng chi trả từ 200.000 - 362.000 đồng/ha rừng là thấp, cần được nâng lên để khuyến khích người dân giữ rừng; đồng thời lực lượng kiểm lâm nên kết hợp với nông dân được giao giữ rừng để bảo vệ rừng một cách tốt hơn.

H.Minh