Báo Đại Đoàn Kết Quốc hội

Xác định rõ các trường hợp thu hồi đất

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Xác định rõ các trường hợp thu hồi đất

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Xác định rõ các trường hợp thu hồi đất
Toàn cảnh phiên thảo luận (Ảnh: Quang Vinh)

Theo các đại biểu Quốc hội, việc sửa Luật Đất đai lần này cần đồng thời đạt ba yêu cầu: khơi thông nguồn lực cho phát triển; kiểm soát chặt việc sử dụng quyền lực Nhà nước; và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

Cân nhắc kỹ cơ chế nhà đầu tư thỏa thuận được trên 75% diện tích thì Nhà nước thu hồi phần còn lại

Ngày 21/8 dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận ở hội trường về định hướng chính sách sửa đổi Luật Đất đai năm 2024.

Phát biểu tại phiên họp, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Phòng) đề nghị cân nhắc kỹ cơ chế nhà đầu tư đã thỏa thuận được trên 75% diện tích và trên 75% số người sử dụng đất thì Nhà nước thu hồi phần còn lại. Khi Nhà nước thu hồi 25% còn lại, quan hệ đã chuyển từ thỏa thuận dân sự sang sử dụng quyền lực công. Vì vậy, không nên chỉ căn cứ vào tỷ lệ 75%, mà cần tính thêm quy mô dự án, số người tuyệt đối còn chưa đồng thuận, loại đất bị thu hồi, nhất là đất ở, và mức độ ảnh hưởng đến nơi ở, sinh kế của người dân.

Đồng thời, khoản 4 Điều 43 quy định người bị thu hồi được bảo đảm mức bồi thường không thấp hơn mức trung bình của giá đất đã thỏa thuận thì phải làm rõ “mức trung bình” được xác định theo phương pháp nào, để chính cơ chế bảo vệ người dân không trở thành nguồn tranh chấp mới.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Bên cạnh đó, cần tách bạch rõ hơn chức năng điều tiết kinh tế của giá đất với chức năng bảo đảm quyền lợi của người dân khi Nhà nước thu hồi đất. Theo định hướng chính sách, giá đất phải góp phần bảo đảm chi phí đầu vào hợp lý cho sản xuất, kinh doanh. Nhưng dự thảo lại sử dụng cùng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh để tính cả nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và tiền bồi thường khi thu hồi đất.

Song bà Nga nhìn nhận, hai mục tiêu này không hoàn toàn đồng nhất. Khi giá đất được sử dụng như một công cụ kinh tế, Nhà nước có thể cần điều tiết để thúc đẩy đầu tư, sản xuất. Nhưng khi Nhà nước bắt buộc thu hồi đất thì mức bồi thường lại trực tiếp liên quan đến quyền tài sản và khả năng tái thiết cuộc sống của người dân.

“Tôi không cho rằng nhất thiết phải xây dựng hai bảng giá đất, nhưng Luật nên có cơ chế áp dụng khác nhau, bảo đảm việc điều tiết giá đất để giảm chi phí cho nền kinh tế không đồng thời làm giảm mức bảo vệ đối với người bị thu hồi đất”, bà Nga nói và cho hay khi dự thảo bỏ giá đất cụ thể và bỏ cơ chế tư vấn xác định giá đất thì yêu cầu công khai dữ liệu, kiểm soát, phản biện và trách nhiệm giải trình trong xây dựng bảng giá đất, hệ số điều chỉnh càng phải chặt chẽ hơn.

Đất đai vừa là nguồn lực đặc biệt của quốc gia, vừa gắn trực tiếp với quyền tài sản, nơi ở và sinh kế của người dân. Vì vậy, sửa Luật lần này cần đồng thời đạt ba yêu cầu: khơi thông nguồn lực cho phát triển, kiểm soát chặt việc sử dụng quyền lực Nhà nước và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

Nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế điều tiết đất đối với phần giá trị tăng thêm do quy hoạch

Theo đại biểu Quốc hội Nguyễn Đại Thắng (Đoàn Hưng Yên), về thu hồi đất bồi thường hỗ trợ tái định cư và bảo đảm ổn định đời sống sinh kế của người có đất bị thu hồi. Đây là nội dung đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Ban chấp hành trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo chỉ đạo rất quyết liệt trong thời gian vừa qua. Nghị quyết 21 của trung ương đã thể hiện cách tiếp cận mới, chuyển từ tư duy chỉ bồi thường tài sản sang tái thiết cuộc sống cho người có đất bị thu hồi.

Tại điều 35 dự thảo luật đã quy định cụ thể hơn các trường hợp nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng, ông Thắng cơ bản đồng tình với hướng tiếp cận này. Việc xác định rõ các trường hợp thu hồi đất sẽ góp phần bảo đảm minh bạch, thống nhất, hạn chế cách hiểu và vận dụng khác nhau trong thực tiễn. Tuy nhiên cùng với việc xác định rõ các trường hợp thu hồi đất, cần đặc biệt quan tâm đến việc bảo đảm cuộc sống sinh kế của người dân sau khi có đất bị thu hồi. Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong thiết kế chính sách bồi thường hỗ trợ tái định cư.

Đại biểu Nguyễn Đại Thắng phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)
Đại biểu Nguyễn Đại Thắng phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)

Tại điều 42 dự thảo luật đã quy định thứ tự bồi thường về đất theo hướng ưu tiên đất có cùng mục đích sử dụng, trường hợp không có đất thì bồi thường bằng tiền, đồng thời cho phép bồi thường bằng đất khác mục đích hoặc bằng nhà ở khi địa phương có quỹ đất quỹ nhà và người có đất bị thu hồi có nhu cầu. Ông Thắng đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định này theo hướng cụ thể hóa hơn yêu cầu tái thiết cuộc sống, bảo đảm người có đất bị thu hồi có nơi ở, điều kiện sống và sinh kế bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.

Bên cạnh đó, cần nghiên cứu quy định rõ hơn thứ tự ưu tiên và điều kiện áp dụng các hình thức bồi thường, trong đó ưu tiên bố trí đất có cùng mục đích sử dụng hoặc nhà ở đất ở tái định cư. Bồi thường bằng tiền chỉ thực hiện khi trong trường hợp không có quỹ đất quỹ nhà phù hợp hoặc theo nguyện vọng của người bị thu hồi đất.

Đồng thời cần có tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ bảo đảm về vị trí, diện tích, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu và điều kiện duy trì sinh kế của người có đất bị thu hồi.

Đối với người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, chính sách bồi thường, hỗ trợ cần gắn với khả năng tiếp tục sản xuất hoặc chuyển đổi sinh kế bền vững, tránh tình trạng người dân có đất bị thu hồi được bồi thường về tài sản nhưng gặp khó khăn trong việc ổn định cuộc sống sau khi bị thu hồi đất.

Về cơ chế điều tiết giá trị tăng thêm từ đất và giá đất, tài chính đất đai, Điều 12 của dự thảo đã xác định nhà nước có thẩm quyền quyết định chính sách tài chính về đất đai và điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại. Tuy đồng tình với nguyên tắc này nhưng theo ông Thắng, điều 71 hiện chủ yếu quy định các khoản thu ngân sách từ đất đai trong khi cơ chế cụ thể về điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất chưa thật rõ.

Do đó, đề nghị tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế điều tiết đất đối với phần giá trị tăng thêm do quy hoạch, đầu tư kết cấu hạ tầng, chuyển mục đích sử dụng đất và mở rộng không gian đô thị, bảo đảm nhà nước và xã hội được hưởng một phần hợp lý giá trị tăng do đầu tư công và quyết định quản lý nhà nước tạo ra. Đồng thời cần đánh giá tác động của bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất quy định tại điều 76 dự thảo luật đối với chi phí sản xuất kinh doanh và khả năng tiếp cận đất đai của doanh nghiệp.

Thu hồi đất cần gắn với việc tổ chức lại không gian phát triển

Đại biểu Quốc hội Lê Văn Thế (Đoàn Ninh Bình) đề nghị, việc thu hồi đất cần gắn với việc tổ chức lại không gian phát triển. Khi nhà nước đầu tư một tuyến đường hoặc một công trình hạ tầng lớn, việc thu hồi đất không nên chỉ dừng ở việc lấy đủ diện tích đất cho công trình. Nếu chỉ thu hồi đúng phần đất nằm trong ranh giới dự án, sau khi công trình hoàn thành có thể để lại những phần đất nhỏ, méo, khó tiếp cận. Đất sản xuất bị chia cắt hoặc không hiệu quả đối với việc canh tác đất nông nghiệp. Vì vậy giải phóng mặt bằng không chỉ lấy đủ đất cho công trình mà phải đồng thời tính đến hiệu quả sử dụng đất và chất lượng không gian hình thành sau dự án.

 

Anh Vũ - Việt Thắng - Quang Vinh