Xuất khẩu nông sản tăng tốc trong tháng 7, củng cố đà tăng trưởng cả năm
Sau nửa đầu năm duy trì xu hướng phục hồi, hoạt động xuất khẩu nông, lâm, thủy sản (NLTS) của Việt Nam tiếp tục khởi sắc trong tháng 7/2026. Động lực đến từ sự tăng trưởng đồng đều của nhiều nhóm ngành hàng chủ lực, đặc biệt là thủy sản, rau quả và các mặt hàng đầu vào sản xuất, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của toàn ngành cao hơn so với 6 tháng đầu năm.
Ngày 3/8, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, giá trị xuất khẩu NLTS tháng 7 năm 2026 của Việt Nam ước đạt 6,67 tỷ USD, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, tổng giá trị xuất khẩu NLTS ước đạt gần 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt gần 22,2 tỷ USD, tăng 2,4%; giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 455 triệu USD, tăng 33,2%; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 6,85 tỷ USD, tăng 12,7%; giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 10,96 tỷ USD, tăng 5,8%; giá trị xuất khẩu đầu vào sản xuất đạt 2,32 tỷ USD, tăng 71,1%; giá trị xuất khẩu muối đạt 8,8 triệu USD, tăng 40,2%.
Xét theo vùng lãnh thổ, châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng NLTS chính của Việt Nam với thị phần chiếm 45,2%. Thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 21,4% và 13,8%. Thị phần của 2 khu vực châu Phi và châu Đại Dương nhỏ, chiếm lần lượt 2,3% và 1,4%.
So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu NLTS chính của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2026 sang khu vực châu Á tăng 13,2%; châu Âu tăng 1,8%; châu Đại Dương tăng 18,7%; trong khi châu Mỹ giảm 0,5%; châu Phi giảm 20,4%.

Ở cấp độ từng quốc gia, Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm 21,9% tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam. Tiếp theo là Hoa Kỳ với 19% và Nhật Bản với 6,8%.So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 24,4%, Nhật Bản tăng 3,9%, trong khi Hoa Kỳ giảm 1,6%.
Diễn biến này phản ánh xu hướng chuyển dịch rõ nét của thị trường xuất khẩu, trong đó các thị trường châu Á tiếp tục đóng vai trò động lực tăng trưởng, bù đắp cho sự chững lại tại một số thị trường truyền thống.
Trong nhóm các ngành hàng chủ lực, rau quả tiếp tục là điểm sáng nổi bật. Tháng 7, giá trị xuất khẩu rau quả đạt khoảng 1,13 tỷ USD, nâng tổng kim ngạch 7 tháng lên 4,83 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm trước.
Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm tới 55% tổng giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Hoa Kỳ và Hàn Quốc lần lượt chiếm 7,9% và 4,6%.
Đáng chú ý, Campuchia trở thành thị trường có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất khi kim ngạch nhập khẩu rau quả Việt Nam tăng tới 3,1 lần, cho thấy dư địa mở rộng tại các thị trường khu vực vẫn còn rất lớn.
Trong khi đó, thủy sản tiếp tục duy trì mức tăng trưởng hai con số, đạt 6,85 tỷ USD, tăng 12,7%, góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của toàn ngành.
Theo Nghị quyết số 168/NQ-CP của Chính phủ về cập nhật kịch bản tăng trưởng năm 2026, mục tiêu tăng trưởng của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đã được điều chỉnh từ 3,7% lên 4%, đồng thời phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu 74 tỷ USD trong năm nay.
Để hoàn thành mục tiêu này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, ưu tiên hàng đầu là tiếp tục hoàn thiện thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp.
Song song với đó là mở rộng thị trường xuất khẩu, đẩy nhanh cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói, vận hành hiệu quả hệ thống truy xuất nguồn gốc, chủ động đáp ứng các quy định mới của thị trường nhập khẩu và tiếp tục thực hiện các giải pháp tháo gỡ cảnh báo "thẻ vàng" IUU đối với thủy sản.
Bộ cũng đặt trọng tâm vào việc đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất, nâng cao năng lực phòng chống thiên tai, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn ngành.
Đồng thời, tăng cường đồng hành cùng địa phương và doanh nghiệp nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, môi trường, thủy lợi và logistics, qua đó giải phóng nguồn lực cho tăng trưởng.