Báo Đại Đoàn Kết Thị trường

Áp lực của ngành sắn

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Áp lực của ngành sắn

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Áp lực của ngành sắn
Ngành sắn trước những yêu cầu khắt khe của thị trường. Ảnh: Hạ Lan.

Việt Nam hiện là trung tâm chế biến, xuất khẩu sắn quy mô lớn của khu vực. Song, trước yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, sản xuất không gây mất rừng, ngành sắn Việt Nam đang chịu sức ép phải tái cấu trúc nhằm minh bạch nguồn nguyên liệu, kiểm soát sử dụng đất cũng như duy trì thị trường xuất khẩu bền vững.

Ông Nghiêm Minh Tiến - Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam thông tin, không chỉ dừng lại ở xuất khẩu tinh bột, ngành sắn đang mở rộng sang nhiều lĩnh vực như thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, công nghiệp và năng lượng sinh học...

Tổng nguồn cung sắn nguyên liệu hằng năm đạt trên 18 triệu tấn sắn tươi, trong đó khoảng 58% là nguồn cung trong nước (hơn 10 triệu tấn) đến từ khoảng 500.000ha diện tích trồng sắn. Phần còn lại, chiếm khoảng 42%, là nguyên liệu nhập khẩu, chủ yếu từ Lào và Campuchia.

Theo đại điện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), hiện cả nước có trên 40 tỉnh trồng sắn, tập trung ở 5 vùng trọng điểm chính gồm Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, chiếm 98% về diện tích và sản lượng sắn cả nước. Tổng sản lượng sắn cả nước đạt 10,4 triệu tấn, trong đó, năng suất bình quân đạt 20,4 tấn/ha.  Mặt hàng sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc khi thị trường này chiếm tới 93,2% thị phần tính trong 7 tháng của năm 2025.

Giới chuyên gia kinh tế nhận định, sắn và các sản phẩm từ sắn không chỉ là một trong 13 mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam, mà còn là nhân tố giúp Việt Nam vươn lên vị trí thứ ba toàn cầu về xuất khẩu sắn. Với kim ngạch thường niên dao động từ 1 - 1,4 tỷ USD, sắn đóng góp đáng kể vào nền kinh tế nông nghiệp quốc gia.

Đây là một trong số ít ngành hàng nông sản có năng lực chế biến lớn đến mức phải bổ sung nguyên liệu nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu sản xuất.

Dù có quy mô cũng như dư địa phát triển lớn, vậy nhưng thực tế, diện tích trồng sắn cả nước đang có xu hướng giảm. Trong khi đó, tại một số địa phương lại có diện tích rừng, diện tích trồng sắn tiếp tục mở rộng, làm dấy lên lo ngại về nguy cơ suy thoái tài nguyên rừng. Đáng chú ý, một trong những thách thức lớn nhất hiện nay đối với ngành sắn là các yêu cầu ngày càng khắt khe từ thị trường quốc tế về tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và sản phẩm không gây mất rừng.

Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), dù hiện mới áp dụng với các ngành cà phê, cao su và gỗ, nhưng được dự báo sẽ sớm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến ngành sắn. Bên cạnh EU, nhiều thị trường lớn khác như Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc cũng đang xây dựng các quy định mới nhằm ngăn chặn các sản phẩm nông, lâm nghiệp có nguồn gốc không rõ ràng hoặc gây mất rừng thâm nhập thị trường. Theo TS Nguyễn Vinh Quang, chuyên gia nghiên cứu của Tổ chức Forest Trends, đặc thù của ngành sắn là nguồn nguyên liệu chủ yếu đến từ các hộ nông dân nhỏ lẻ, với hơn nửa triệu hộ tham gia sản xuất. Sản phẩm thường được thu mua qua nhiều khâu trung gian, khiến việc minh bạch thông tin về đất đai, vùng trồng và giao dịch thương mại gặp nhiều khó khăn.

Để đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, theo TS Quang, ngành sắn cần tái cấu trúc toàn diện chuỗi cung hiện nay, từ kiểm soát việc sử dụng đất, minh bạch hóa chuỗi cung ứng đến chuyển các hoạt động phi chính thức sang chính thức, bảo đảm đủ bằng chứng phục vụ truy xuất.

Nhiều chuyên gia cũng cho rằng, khó khăn lớn nhất của ngành sắn trong việc đảm bảo truy xuất nguồn gốc nằm ở khâu nguyên liệu, cả trong nước và nhập khẩu. Nguồn cung trong nước chủ yếu đến từ các diện tích nhỏ lẻ của nông hộ, được tiêu thụ qua thương lái và thiếu thông tin về sử dụng đất cũng như giao dịch. Trong khi đó, với nguồn nguyên liệu nhập khẩu, doanh nghiệp thường thiếu thông tin về vùng trồng và bằng chứng giao dịch.

MINH QUÂN