Áp lực vốn cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10% vào năm 2026 là mục tiêu tham vọng và có thể khả thi nếu các nguồn lực của nền kinh tế được huy động và phân bổ hiệu quả.
Giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên. Đây là mục tiêu đầy tham vọng trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro từ xung đột địa chính trị, biến động giá năng lượng đến những bất định của dòng vốn toàn cầu.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, nhu cầu vốn rất lớn. Ước tính, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn tới cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, gấp hơn hai lần so với giai đoạn 2021-2025. Tốc độ tăng vốn đầu tư phải đạt bình quân khoảng 16% mỗi năm, đưa tỷ lệ đầu tư trên GDP lên khoảng 40%.
Áp lực huy động vốn không chỉ nằm ở quy mô mà còn ở chất lượng và tính bền vững. Trong bối cảnh nguồn lực có hạn, bài toán đặt ra là làm sao khơi thông và phân bổ hiệu quả các dòng vốn trong nền kinh tế, đồng thời mở rộng các kênh huy động vốn trung và dài hạn.
Hiện nay, hệ thống ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ lực cho nền kinh tế. Tổng dư nợ tín dụng đã đạt gần 19 triệu tỷ đồng, trong đó tín dụng ngân hàng chiếm trên 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Ngay từ đầu năm 2026, tín dụng đã ghi nhận mức tăng khoảng 1,5%, cho thấy nhu cầu vốn vẫn ở mức cao.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, tín dụng ngân hàng khó có thể tăng trưởng tương ứng với nhu cầu vốn ngày càng lớn của nền kinh tế. Áp lực cân đối cung - cầu vốn có thể khiến lãi suất chịu sức ép tăng trong một số thời điểm. Điều này cho thấy sự cần thiết phải giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, đồng thời phát triển mạnh các kênh dẫn vốn khác.
Ông Đoàn Việt Nam - Phó Tổng giám đốc BIDV chia sẻ, việc phát triển một hệ sinh thái tài chính đa tầng là yếu tố quan trọng giúp huy động hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng thương mại tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong việc tài trợ cho các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án hạ tầng và công nghiệp quy mô lớn. Thứ hai, thị trường vốn là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng, bao gồm phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu dự án và cổ phiếu. Thứ ba, mô hình tài trợ dự án ngày càng được áp dụng rộng rãi đối với các dự án hạ tầng lớn, trong đó nguồn vốn được thu xếp dựa trên dòng tiền của dự án thay vì bảng cân đối của doanh nghiệp. Thứ tư, nguồn vốn quốc tế từ các tổ chức tài chính phát triển, các ngân hàng nước ngoài và các quỹ đầu tư hạ tầng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn dài hạn với chi phí hợp lý.
“Việc kết hợp linh hoạt các kênh huy động vốn này sẽ tạo nền tảng tài chính vững chắc cho các doanh nghiệp triển khai các dự án đầu tư quy mô lớn” - ông Nam nói.
Thực tế cho thấy nhu cầu vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển ngày càng lớn, trong khi cấu trúc nguồn vốn hiện nay vẫn phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng. Các kênh huy động vốn dài hạn như thị trường chứng khoán, quỹ đầu tư... vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Việc đa dạng hóa các kênh dẫn vốn, nâng cao chất lượng thị trường và tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực trở thành yêu cầu quan trọng để hỗ trợ tăng trưởng bền vững.
Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà nhận định, bối cảnh hiện nay đã đặt ra những yêu cầu về việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô trong đó có chính sách tiền tệ linh hoạt, chủ động, phù hợp để đảm bảo cân đối hài hòa các mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát nhưng vẫn đảm bảo cung ứng đủ vốn nguồn vốn tín dụng ngân hàng phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp trong nền kinh tế.
“Song song với việc đáp ứng đủ về quy mô, chúng ta còn cần chú trọng việc nâng cao chất lượng tín dụng, định hướng dòng vốn tín dụng ngân hàng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng mới phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, trọng tâm là kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn” - ông Hà chia sẻ.
Đi vào cụ thể, ông Nguyễn Quang Ngọc, Phó Trưởng Ban Chính sách tín dụng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho rằng, nền kinh tế Việt Nam có các kênh huy động vốn như tín dụng ngân hàng, từ phát hành trái phiếu, cổ phiếu, đầu tư công, đầu tư nước ngoài và các quỹ đầu tư trong, ngoài nước thì tín dụng ngân hàng vẫn là kênh huy động vốn quan trọng nhất và chiếm tỉ trọng lớn nhất.