Bài học nơi nguồn sáng
Trong chương trình hợp tác quốc tế đào tạo sĩ quan cho hai nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia, nhiều năm nay, thuỷ điện Hoà Bình luôn là địa chỉ đỏ được Ban Giám hiệu trường Sĩ quan Pháo binh lựa chọn để học viên quốc tế tham quan, học tập.

Từ Trường Sĩ quan Pháo binh, xe hướng về quốc lộ 21 (đường Cuba) chạy từ Sơn Tây đi Xuân Mai. Dẫn dắt các bạn học viên đang háo hức ngắm nhìn cảnh vật xung quanh tập trung vào chủ đề chính. Tôi nói to qua chiếc loa tay, hiện tại chúng ta đang đi trên con đường hữu nghị do nhà nước Cuba giúp đỡ Việt Nam xây dựng năm 1976. Ở thời điểm đó dù rất khó khăn, nhưng với tinh thần “nhường cơm, sẻ áo” nhân dân Cuba đã dành cho Việt Nam những gì tốt đẹp nhất, đúng như lời Chủ tịch Fidel Castro nói "Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình". Cùng với Cuba, nhiều quốc gia khác đã giúp Việt Nam cả về vật chất, tinh thần trong lúc chiến tranh ác liệt và giai đoạn tái thiết đất nước sau này.
Từ đường Cuba đến ngã tư giao cắt đại lộ Thăng Long, xe rẽ sang đường cao tốc Hà Nội - Hoà Bình, tuyến đường đẹp và hiện đại uốn lượn như một dải lụa mềm men theo từng dãy núi, băng qua từng thôn bản đang thay da, đổi thịt từng ngày trong làn sóng đô thị hoá. Các bạn học viên vui sướng khi thấy khung cảnh núi rừng ngút ngàn như chính nơi quê nhà xa xôi. Họ chỉ trỏ, trò chuyện rôm rả. Tôi nhẹ nhàng nói, đề nghị các bạn không “nói chuyện bằng tiếng mẹ đẻ”, chúng ta nói tiếng Việt để vừa nâng cao kỹ năng giao tiếp vừa để hiểu nhau hơn. Các bạn học viên hai nước đều hiểu và vui vẻ đồng ý. Những câu chuyện về gia đình, bạn bè, quê hương, đất nước được họ chia sẻ thật tự nhiên với nhau. Người trẻ là vậy họ dễ gần, dễ mến và dễ hoà đồng trong môi trường mới.
Chưa đầy một giờ xe chạy, chúng tôi đã đến địa phận tỉnh Phú Thọ. Trong màn sương mỏng, phía hạ lưu dòng Đà Giang mang vẻ đẹp đằm thắm dịu dàng, thoáng ẩn, thoáng hiện giữa bạt ngàn núi non, êm đềm trôi qua các bản làng thơ mộng xen lẫn phố thị hiện đại trước khi hợp nhất với sông Hồng và sông Lô nơi ngã ba Bạch Hạc để tạo thành sông Hồng huyền thoại.
Ngắm nhìn dòng sông Đà tôi liên tưởng trước khi trở nên bao dung hiền hoà, dòng nước trong xanh kia đã phải băng qua muôn núi ngàn khe, phải gồng mình vượt lên mọi thác ghềnh, hiểm trở, phải chịu đau đớn đến tột cùng vì những va đập, mài xiết cũng như hàng ngàn, hàng vạn nhát chém của cánh quạt tuốc bin bằng thép nặng hàng ngàn tấn. Nhưng dòng nước đã vượt qua và chiến thắng mọi khó khăn. Hơn ai hết chính dân tộc Việt Nam mới thấu hiểu được giá trị của hoà bình, độc lập, tự do. Thấu hiểu được giá trị của tình bằng hữu trong những lúc khốn khó.
Buổi tham quan diễn ra theo lịch trình. Đầu tiên lớp học đi vào “trái tim thuỷ điện”, dưới đó các công nhân, kỹ sư đang ngày đêm vận hành các tổ máy khổng lồ để tạo ra nguồn năng lượng phát triển đất nước. Đường hầm đi vào trong lòng núi, nhiều bạn có cảm giác ù tai do tiếng ồn của máy và chưa quen với môi trường sâu dưới đất. Qua lời thuyết minh của cô hướng dẫn viên cũng với sự chuyên nghiệp của đội ngũ công nhân, kỹ sư đang vận hành nhà máy, các bạn học viên quốc tế ai nấy đều tỏ ra kinh ngạc trước sự hiện đại, kỳ vĩ, kỳ công của thủy điện.
Ra khỏi hầm máy, cô hướng dẫn viên chỉ tay về phía bờ đập đối diện và nói. Với người làm thủy điện, nước chính là “vàng”, trước đây cứ về mùa mưa lũ, lượng nước trên thượng nguồn đổ về hồ chứa rất lớn. Để bảo đảm an toàn cho thuỷ điện và điều tiết dòng chảy, ngăn chặn những trận lũ đổ về vùng đồng bằng, nhà máy phải mở cửa xả bỏ phí lượng nước rất lớn. Từ khi thủy điện Hoà Bình mở rộng được khánh thành đi vào hoạt động, lượng nước dư thừa đó đã được biến thành “vàng”. Điều đặc biệt đó là công trình hoàn toàn do các kỹ sư Việt Nam nghiên cứu, thiết kế, thi công, cùng với thủy điện Sơn La, Lai Châu trên thượng nguồn sông Đà. Nghe đến đây, các bạn học viên Lào, Campuchia thực sự khâm phục trí tuệ, bản lĩnh của người Việt Nam. Không ai có thể tưởng tượng được một đất nước Việt Nam đã từng nghèo đói, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, khi đất nước thống nhất lại bị bao vây cấm vận trong nhiều năm. Nhưng dân tộc đó đã không cam chịu, không khuất phục, chính ý chí, lòng tự tôn, tự hào dân tộc và được sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô trước đây và nhân dân Nga nhân hậu ngày nay, cùng với nhiều bạn bè khác trên thế giới, Việt Nam đã từng bước học hỏi, vươn lên làm chủ khoa học công nghệ quan trọng hơn là làm chủ vận mệnh của dân tộc mình.
Trước khi đến thăm bảo tàng và tượng đài Bác Hồ, lớp học vào thắp hương, đặt hoa tri ân tại nhà tưởng niệm Việt-Xô. Lấy ý tưởng thiết kế từ tua bin máy phát điện cách điệu. Bên trong đặt bia ghi công khắc tên tuổi, quê quán các liệt sĩ và được gắn theo hình tròn như dòng nước sông Đà ngày đêm xoắn siết lấy tua bin, mải miết quay tạo ra dòng điện cho Tổ quốc. Trong không khí trầm hùng linh thiêng. Bên vòng bia tưởng niệm, giọng cô hướng dẫn viên chậm lại nghèn nghẹn. Từng lời thuyết minh sâu lắng với những câu chuyện cảm động về gương hi sinh dũng cảm của các kỹ sư, chuyên gia, công nhân hai nước trong quá trình xây đập. Cô nói thân xác của các anh, các chị đều đã được đưa về quê nhà, nhưng linh hồn, công lao của họ đã tạc vào đá núi nơi này và máu của họ đã hòa cùng nước sông Đà để tạo thành dòng điện đang ngày đêm thắp sáng khắp quê hương Việt Nam.
Thực sự ấn tượng với câu chuyện được kể bằng trái tim về những con người có thật, sự kiện và cảm xúc chân thật. Trầm ngâm suy tư bên hàng bia đá khắc tên 11 chuyên gia, kỹ sư Liên Xô. Buchít, học viên Campuchia xúc động nói với tôi: Ở nước em có rất nhiều đài tưởng niệm quân tình nguyện Việt Nam đã hi sinh trong khi chiến đấu giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng Ponpot. Hàng vạn người lính Việt Nam đã đem máu xương của mình để cứu cả một dân tộc trong cơn bĩ cực, sự hi sinh đó cũng tạo thành nguồn sáng bất diệt cho sự sống được hồi sinh trên quê hương em.
Thitsaphone Phommeexay - học viên Lào kể rằng. Từ thủ đô Vientiane đến khắp các tỉnh trong cả nước như Xiengkhouang, Savanakhet, Atapeu... đâu đâu cũng có nghĩa trang và đài tưởng niệm ghi công các anh hùng liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam. Những nơi đó được chính quyền và nhân dân gìn giữ, chăm sóc với sự trân trọng sâu sắc. Các trường học trong vùng cũng thường tổ chức giáo dục truyền thống ở đó. Và hôm nay, tại nơi khởi nguồn của ánh sáng, em biết thêm, không chỉ có người Việt Nam hi sinh trên đất nước Lào, Campuchia xa xôi, mà ở Việt Nam cũng có những người Liên Xô cách nửa vòng trái đất đã ngã xuống. Bằng tất cả sự thành kính Thitsaphone Phommeexay nói rằng: Dù máu của người Việt Nam đã đổ trên đất nước Lào, Campuchia hay máu của người Liên Xô đã đổ trên quê hương Việt Nam thì đều có màu đỏ, đều tô thắm truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc cho dù chúng ta không cùng Tổ quốc, không cùng màu da, ngôn ngữ. Chính sự hi sinh đó đã trở thành biểu tượng bất diệt về tình hữu nghị và tinh thần quốc tế cao đẹp.
Trên đường lên đỉnh đập thuỷ điện, Salanthone Boutsingkham, người nói tiếng Việt rất giỏi kể rằng: Ở tỉnh Xiangkhouang của em và các tỉnh lân cận như Houaphanh cũng có những con đường, cây cầu và bệnh viện do Việt Nam xây dựng. Những công trình đó đã giúp nhân dân Lào rất nhiều trong việc đi lại, phát triển kinh tế, chăm sóc sức khoẻ. Sau chiến tranh cả Lào và Việt Nam đều nghèo khó như nhau, nhưng Việt Nam đã rất trượng nghĩa, sẵn sàng “chia ngọt, sẻ bùi” với nhân dân Lào.
Đứng trên mặt đập, phía bên hồ chứa là khung cảnh hùng vĩ của trời, nước, núi non hoà quyện vào nhau, ở bên cửa xả là cầu vồng bảy sắc lung linh huyền ảo, hiện tượng thiên nhiên kỳ vĩ thường xuyên xuất hiện nơi đây. Dân tộc Việt Nam là vậy, dù bất luận trong hoàn cảnh nào cũng vẫn luôn thuỷ chung, chí nghĩa chí tình, trước sau như một. Tình cảm đó mãi sâu nặng, trong sáng như nước hồ thuỷ điện và đẹp như cầu vồng lung linh sắc màu nối liền hai bờ sông kia. Các bạn cũng như hàng ngàn sinh viên, học viên khác đang học tập tại các trường đại học, trường sĩ quan ở Việt Nam là minh chứng sống động cho sứ mệnh quốc tế mà Việt Nam đang thực hiện. Và chính các bạn hãy là những nguồn sáng của tri thức khoa học, tình hữu nghị, để khi trở về nước lan toả tinh thần đó đến khắp mọi nơi trên quê hương mình.