Biến quyết sách chiến lược thành sức mạnh đồng thuận và hành động của nhân dân
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV khép lại với những quyết sách lớn, đặt trong một chỉnh thể thống nhất giữa xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Điều cần làm ngay là chuyển tinh thần Hội nghị thành chương trình hành động cụ thể, để Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên thực sự trở thành lực lượng quy tụ đồng thuận, phát huy sức dân và giám sát quá trình thực thi từ cơ sở.
Bốn bước chuyển trong một chỉnh thể phát triển
Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV đã hoàn thành chương trình đề ra. Trung ương thống nhất cao về 13 nội dung, biểu quyết thông qua Nghị quyết Hội nghị.

Thông báo Hội nghị Trung ương 3 cho thấy các quyết sách lần này trực tiếp bao quát những vấn đề nền tảng của công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trung ương thông qua các quy định nhằm tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức đảng, tăng cường kiểm tra, giám sát, phòng ngừa vi phạm; đồng thời xác định xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đáng chú ý, Trung ương nhấn mạnh phải phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân, gia đình, cộng đồng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong kiến tạo môi trường xã hội văn minh, hiện đại, giàu tính nhân văn.[1]
Bốn bước chuyển ấy được xác định rõ ngay từ khai mạc Hội nghị: “Thứ nhất: nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành của Đảng và bộ máy Nhà nước. Thứ hai: quản trị thống nhất không gian phát triển, phát huy hiệu quả nguồn lực quốc gia. Thứ ba: xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người. Thứ tư: chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu, khả năng thích ứng và bảo vệ vững chắc đất nước.”[2] Mỗi bước chuyển có nội dung riêng, nhưng không thể tách rời: tổ chức và con người tạo năng lực hành động; thể chế và không gian phát triển khơi thông nguồn lực; mô hình phát triển chuyển nguồn lực thành năng suất, của cải và chất lượng sống; năng lực phòng ngừa bảo đảm quá trình phát triển an toàn, liên tục, bền vững.
Tầm quan trọng của các quyết sách còn nằm ở cách tiếp cận mới: Thiết kế đồng thời chủ trương, điều kiện thực thi và cơ chế kiểm soát. Phân cấp, phân quyền phải đi cùng nhân lực, tài chính, dữ liệu, công cụ và trách nhiệm. Đất đai, biển, đô thị, hạ tầng và tài nguyên phải được quản trị trong không gian phát triển thống nhất, hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Mô hình phát triển mới lấy năng suất, tri thức, công nghệ và con người làm động lực, nhưng phải gắn tăng trưởng với an sinh, hạnh phúc, an ninh con người và trách nhiệm với các thế hệ mai sau.
Đặc biệt, Hội nghị nhìn thẳng vào vấn đề có tính quyết định: “Điểm nghẽn lớn nhất vẫn là khâu thực thi.”[3] Vì vậy, giá trị của quyết sách phải được đo bằng những chuyển biến mà người dân có thể cảm nhận: thủ tục thuận lợi hơn, bộ máy phục vụ tốt hơn, sinh kế được bảo đảm, môi trường sống an toàn hơn, kiến nghị được lắng nghe và giải quyết rõ ràng hơn. Đây cũng là điểm gặp gỡ trực tiếp giữa tinh thần Hội nghị Trung ương 3 với sứ mệnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Đưa tiếng nói và sức mạnh của Nhân dân vào khâu thực thi
Trong 5 nhóm việc trọng tâm sau Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước giao nhiệm vụ rất rõ: “Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lãnh đạo công tác tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện xã hội, phản ánh ý kiến Nhân dân. Toàn hệ thống phải hành động đồng bộ, thông suốt, hướng về cơ sở và Nhân dân.”[4] Đây không chỉ là nhiệm vụ tuyên truyền nghị quyết. Mặt trận phải tổ chức để Nhân dân hiểu đúng, tham gia thực hiện, góp ý, giám sát và cùng thụ hưởng; đồng thời chuyển những vấn đề phát sinh từ đời sống thành thông tin có căn cứ để cấp ủy, chính quyền kịp thời điều chỉnh chính sách và phương thức tổ chức thực hiện.
Một điểm mới có ý nghĩa trực tiếp đối với công tác Mặt trận là Trung ương đồng ý chủ trương chuyển chức năng, nhiệm vụ tham mưu về công tác dân vận từ Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương sang Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương. Chủ trương này đặt công tác dân vận gần hơn với hoạt động tập hợp, vận động các tầng lớp Nhân dân và đòi hỏi Mặt trận, các đoàn thể phải nâng cao năng lực tham mưu, nắm tình hình, dự báo và phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.
Cùng với yêu cầu tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương hai cấp, nhiệm vụ đặt ra không chỉ là tinh gọn bộ máy mà còn phải nâng cao năng lực quản trị, kiến tạo phát triển và hiệu quả phục vụ Nhân dân. Vì vậy, tiếng nói của người dân cần được tiếp nhận thường xuyên, được phản hồi có trách nhiệm và trở thành một căn cứ quan trọng để đánh giá chất lượng vận hành của mô hình mới.[5]
Tinh thần đó thống nhất sâu sắc với Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI. Văn kiện xác định công tác Mặt trận phải hướng mạnh về cơ sở, gần dân, sát dân và đồng hành cùng Nhân dân, thực hiện phương châm “khi dân cần Mặt trận có, khi dân khó Mặt trận sẵn sàng tham gia”[6]. Đồng thời, mục tiêu nhiệm kỳ yêu cầu “Mở rộng các nền tảng số cho các hoạt động vận động, tuyên truyền, giám sát và phản biện xã hội; đo lường kết quả thực tế thông qua các chỉ số cụ thể.”[7] Như vậy, triển khai các quyết sách của Trung ương cũng chính là cơ hội cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI bằng những sản phẩm, dữ liệu và kết quả có thể kiểm đếm.
Ở cấp Trung ương, khi Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam ban hành kế hoạch chung, cụ thể hóa Chương trình hành động nhiệm kỳ 2026 - 2031 sẽ tạo nền tảng để xác định rõ nội dung Mặt trận chủ trì, nội dung phối hợp. Trọng tâm là lựa chọn các chuyên đề giám sát có tác động trực tiếp đến Nhân dân như phân cấp gắn với chất lượng dịch vụ công, chính sách đất đai và tái định cư, an sinh, môi trường chuyển đổi số và trách nhiệm giải quyết kiến nghị.
Ở cấp tỉnh, kế hoạch cần bám sát không gian phát triển, cơ cấu kinh tế, nhóm dân cư và vấn đề nổi lên của địa bàn. Mỗi tỉnh nên chọn một số nhiệm vụ trọng điểm có sản phẩm, thời hạn và cơ quan chịu trách nhiệm; tổ chức đối thoại với chính sách ảnh hưởng rộng; hiệp thương chương trình giám sát, phản biện hằng năm. Kết quả cần công khai để người dân biết kiến nghị do cơ quan nào xử lý và thời hạn phản hồi.
Ở cấp xã và khu dân cư, nơi gần dân và giải quyết các vấn đề hằng ngày, kế hoạch cần ngắn gọn, thiết thực: tổ chức “Tháng nghe dân nói”; duy trì kênh tiếp nhận phản ánh trực tiếp và trực tuyến; phát huy vai trò của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng; theo dõi những nội dung sát sườn như thủ tục hành chính, đất đai, hỗ trợ sinh kế, vệ sinh môi trường, an ninh, an toàn và chăm lo người yếu thế. Mỗi Ban Công tác Mặt trận cần đăng ký ít nhất một công trình hoặc phần việc cụ thể, lấy mức độ tham gia và sự hài lòng của người dân làm thước đo.
Các tổ chức thành viên cần triển khai theo thế mạnh: Công đoàn chăm lo việc làm, kỹ năng và đời sống người lao động; Hội Nông dân gắn chuyển đổi xanh, chuyển đổi số với kinh tế nông thôn; Đoàn Thanh niên thúc đẩy công nghệ và đổi mới sáng tạo; Hội Liên hiệp Phụ nữ chăm lo an sinh gia đình, bình đẳng giới; Hội Cựu chiến binh nêu gương, giữ gìn an ninh cơ sở; các hội trí thức, khoa học, doanh nghiệp, nghề nghiệp và tôn giáo đóng góp tư vấn, phản biện, nguồn lực. Hiệp thương cần phân công rõ và cùng khơi dậy năng lực tự quản, sáng kiến, trách nhiệm xã hội của Nhân dân.
Giám sát không thể chỉ dừng ở việc ghi nhận. Mặt trận cần theo dõi đến cùng việc tiếp thu, xử lý kiến nghị; định kỳ công bố kết quả và chỉ rõ những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Phát biểu bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu: “Mục tiêu, tiến độ, sản phẩm và kết quả thực hiện phải được công khai, minh bạch theo quy định để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân theo dõi, giám sát, phản ánh, kiến nghị.”[8] Đây là cơ sở để hoạt động giám sát có dữ liệu, có địa chỉ trách nhiệm và có khả năng tạo chuyển biến thực tế.
Hội nghị Trung ương 3 đã xác lập những quyết sách có tầm nhìn dài hạn, đồng thời đặt ra yêu cầu hành động ngay, đồng bộ và hướng mạnh về cơ sở. Với vị trí là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân và vai trò nòng cốt trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được kỳ vọng sẽ đưa mỗi nghị quyết đến với người dân bằng ngôn ngữ dễ hiểu, cơ chế tham gia thực chất và kết quả có thể kiểm chứng; đồng thời làm tốt hơn nhiệm vụ dân vận, tập hợp ý kiến, giám sát và phản biện xã hội. Khi những kiến nghị chính đáng của Nhân dân được lắng nghe và xử lý đến cùng, đồng thuận sẽ trở thành nguồn lực phát triển, sức dân sẽ được tổ chức thành hành động. Đó cũng là con đường để những quyết sách chiến lược của Trung ương chuyển hóa thành hiệu quả phục vụ Nhân dân, củng cố niềm tin xã hội và tạo nền tảng vững chắc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng./.
______________________
Tài liệu tham khảo
[1] Báo Điện tử Chính phủ, “Thông báo Hội nghị Trung ương 3”, ngày 24-7-2026.
[2] Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ, “Các quyết sách được Trung ương thông qua phải tạo ra 4 bước chuyển chiến lược”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 20-7-2026.
[3] Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ, “Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm”, tài liệu đã dẫn.
[4] Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ, “Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm”, tài liệu đã dẫn.
[5] Báo Điện tử Chính phủ, “Thông báo Hội nghị Trung ương 3”, ngày 24-7-2026, mục 1 và mục 4.
[6] Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, Hà Nội, 2026, tr. 63.
[7] Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, Hà Nội, 2026, tr. 64.
[8] Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ, “Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm”, tài liệu đã dẫn.