Bỏ điểm cộng IELTS: Công bằng nhưng không để thí sinh bị động
Đề xuất bỏ điểm công IELTS góp phần chuẩn hoá tuyển sinh. Tuy nhiên, những thay đổi dự kiến từ năm 2027 đặt ra yêu cầu về lộ trình chuyển tiếp để học sinh không bị động trong kế hoạch xét tuyển.
Điểm cộng có thể làm sai lệch kết quả xét tuyển đại học
Theo dự thảo quy chế tuyển sinh đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT), mỗi cơ sở đào tạo dự kiến được sử dụng tối đa 5 phương thức tuyển sinh. Đối với từng ngành, chương trình đào tạo, số phương thức tối đa là 3 từ năm 2027 và giảm còn 1 từ năm 2028, không tính xét tuyển thẳng và diện cử tuyển.
Dự thảo cũng đề xuất từ năm 2027 chỉ duy trì điểm ưu tiên theo khu vực, đối tượng chính sách; các trường không được tự quy định điểm cộng từ thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung.

Lý giải về đề xuất trên, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo – Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ GDĐT cho biết, đây không phải thay đổi đột ngột về định hướng, mà là bước tiếp theo của lộ trình kiểm soát và chuẩn hóa.
Từ năm 2023, Bộ đã yêu cầu quy đổi tương đương để giảm chênh lệch; năm 2026 tiếp tục khống chế điểm cộng tối đa 10% tổng điểm xét tuyển. Tuy nhiên, khi mỗi trường tự quy đổi và tự xác định điểm cộng, sự khác biệt vẫn lớn.
Theo GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, điểm cộng có thể trở thành yếu tố quyết định kết quả tại các ngành cạnh tranh cao, tạo sự bất bình đẳng trong tuyển sinh.
Ông Thảo chỉ ra hai cách thức đang gây mất công bằng, cần xử lý. Thứ nhất, ngành không yêu cầu ngoại ngữ nhưng thí sinh có chứng chỉ tiếng Anh vẫn được cộng điểm.
Thứ hai, tổ hợp đã có môn tiếng Anh nhưng chứng chỉ tiếng Anh tiếp tục được dùng để cộng thêm điểm. Khi đó, năng lực ngoại ngữ vừa được phản ánh trong điểm tổ hợp, vừa tạo thêm lợi thế ngoài thang đo. Một năng lực được tính hai lần sẽ làm sai lệch thứ tự xét tuyển, đặc biệt ở các ngành có điểm chuẩn cao, nơi chênh lệch rất nhỏ cũng có thể quyết định trúng tuyển hay không như minh họa ở hình 2.
Theo thống kê của Bộ GDĐT, nhiều ngành điểm chuẩn khoảng 28 nhưng cho cộng tới 1,5 điểm, khiến hàng nghìn thí sinh đạt 26,5-28 điểm vẫn không trúng tuyển chỉ vì không có điều kiện thi chứng chỉ có chi phí cao.
Theo ông Thảo, đây là vấn đề cấp bách liên quan trực tiếp đến công bằng và cần được điều chỉnh ngay. Tự chủ tuyển sinh phải đi cùng trách nhiệm giải trình và không thể hợp thức hóa một tiêu chí làm sai lệch cạnh tranh giữa các thí sinh.
Mong sớm chốt quy định tuyển sinh
Những điều chỉnh của Bộ GDĐT được kỳ vọng sẽ góp phần đơn giản hóa quy trình tuyển sinh, đồng thời bảo đảm tính công bằng, minh bạch trong xét tuyển. Tuy nhiên, những đề xuất thay đổi này cũng khiến thí sinh lo lắng về lợi thế xét tuyển, đặc biệt là những em đã dành nhiều thời gian, công sức và chi phí để đầu tư các chứng chỉ quốc tế.
Em Trần Ngọc Tú, học sinh lớp 12, Trường THPT Lê Quý Đôn (Hà Nội) cho hay, em luyện thi IELTS từ năm học lớp 10 với mong muốn có thêm lợi thế khi xét tuyển đại học. Tính thời điểm này, chi phí ôn luyện lên tới hơn 90 triệu đồng.
Vì vậy, trước đề xuất bỏ điểm cộng chứng chỉ quốc tế, Tú không khỏi lo lắng và hụt hẫng nhất là khi mùa tuyển sinh năm 2027 đang tới gần. Tú bày tỏ mong muốn, Bộ GDĐT sớm có thông tin chính thức để học sinh chủ động phương án ôn thi phù hợp, tránh đầu tư dàn trải.

Chị Nguyễn Thu Hương (Hà Nội), phụ huynh có con chuẩn bị bước vào giai đoạn xét tuyển đại học băn khoăn về thời điểm thay đổi chính sách. Thực tế, nhiều gia đình đã đầu tư một khoản kinh phí không nhỏ cho con học tập, thi lấy chứng chỉ từ sớm, dựa trên quy định tuyển sinh hiện hành.
“Nếu chính sách thay đổi trước kỳ thi, các con có thể bị động. Vì vậy, tôi mong Bộ GDĐT cân nhắc lộ trình chuyển tiếp hợp lý, công bố sớm và rõ ràng để bảo đảm quyền lợi cho học sinh”, chị Hương bày tỏ.
PGS.TS Lê Hiếu Học - Trưởng khoa Khoa học - Công nghệ Giáo dục, Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, việc chuẩn bị cho đại học, từ học IELTS đến lựa chọn tổ hợp môn, ôn thi đánh giá năng lực, có thể kéo dài nhiều năm.
Theo PGS.TS Lê Hiếu Học, mọi thay đổi trong tuyển sinh, dù hợp lý, cũng cần được công bố sớm, có lộ trình rõ ràng để học sinh và gia đình thích ứng.
Trước băn khoăn của học sinh và phụ huynh, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo khẳng định, quyền sử dụng chứng chỉ để chứng minh năng lực ngoại ngữ không bị mất đi; giá trị của việc học tiếng Anh cũng không bị giảm đi.
Nếu ngành đào tạo cần ngoại ngữ, chứng chỉ vẫn được quy đổi để thay thế môn ngoại ngữ trong phương thức xét tuyển.