Báo Đại Đoàn Kết Góc nhìn Đại Đoàn Kết

Cấm phát tán clip, ai báo động bạo lực học đường?

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Cấm phát tán clip, ai báo động bạo lực học đường?

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Quy định mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) yêu cầu “tuyệt đối không quay phim, chụp ảnh, phát tán clip bạo lực lên mạng xã hội” nhằm ngăn chặn lan truyền hình ảnh đánh đập, làm nhục trong môi trường học đường. Ngay khi ban hành, nhiều ý kiến băn khoăn, cho rằng quy định này có thể làm giảm khả năng phản ánh và che mờ thông tin về các vụ việc tiêu cực.

Đọc kỹ công văn của Bộ GDĐT, có thể thấy cách diễn đạt chưa thật rõ ràng, dẫn tới những cách hiểu khác nhau. Đa số cho rằng đây là lệnh cấm toàn bộ việc quay phim, chụp ảnh trong cơ sở giáo dục và phát tán lên mạng xã hội. Một số khác lại hiểu trọng tâm chỉ là hành vi phát tán, còn việc ghi nhận ban đầu để báo cáo cơ quan chức năng vẫn có thể thực hiện. Cách hiểu thứ hai có cơ sở, khi công văn đồng thời yêu cầu công khai đường dây nóng, phát huy vai trò giáo viên chủ nhiệm, Đoàn - Đội và tổ tư vấn tâm lý để nắm bắt mâu thuẫn từ sớm, cùng hòm thư góp ý hoặc ứng dụng bảo mật để tiếp nhận phản ánh và bảo vệ người tố giác.

Quy định mới nhận được sự ủng hộ từ góc độ bảo vệ trẻ em: quyền hình ảnh của nạn nhân và người vi phạm, đồng thời hạn chế việc video bạo lực lan truyền có thể cổ súy hành vi tiêu cực, gây khó kiểm soát cho nhà trường và xã hội. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là: Nếu những hình ảnh, clip ghi lại bạo lực học đường không còn xuất hiện, ai sẽ là người phát tín hiệu cảnh báo, chứng minh sự việc và báo cáo đến cơ quan có thẩm quyền?

Theo thống kê của Bộ GDĐT, mỗi năm cả nước ghi nhận khoảng 1.500-1.600 vụ bạo lực học đường, tương đương 4-5 vụ mỗi ngày. Những con số này cho thấy đây không phải hiện tượng đơn lẻ, mà là thực trạng lặp lại, kéo dài và có xu hướng nghiêm trọng.

Vụ nữ sinh lớp 10 tại Trường Cao đẳng nghề Việt - Xô số 1 (Phú Thọ) bị nhóm bạn kéo vào nhà vệ sinh rồi hành hung là một ví dụ điển hình. Chỉ khi clip xuất hiện trên mạng xã hội ghi lại cảnh đánh đập dã man, sự việc mới được biết đến rộng rãi. Theo gia đình, đây đã là lần thứ ba nạn nhân bị đánh, các lần trước đều bị đe dọa nên giấu kín. Ngày 22/5, Công an tỉnh Phú Thọ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với 2 học sinh về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Điều này cho thấy nhiều vụ bạo lực chỉ được phát hiện khi đã vượt ra ngoài phạm vi nhà trường, thay vì được xử lý từ bên trong. Trong không ít trường hợp, chính những đoạn clip xuất hiện trên mạng xã hội lại trở thành tín hiệu báo động đầu tiên.

Vụ việc tại Trường THCS Nguyễn Du (Di Linh, Lâm Đồng) lại cho thấy một thực tế khác. Theo cơ quan điều tra, nhóm khoảng 13 học sinh do N.H.V. cầm đầu đã nhiều lần đánh hội đồng em Đ.M.H., đồng thời ép nộp tiền “bảo kê” từ 20.000 đến 50.000 đồng mỗi ngày. Nạn nhân bị hành hung khoảng 7-8 lần trước ngày 15/5 - thời điểm em được phát hiện trong tình trạng treo cổ tại nhà và đưa đi cấp cứu, hiện vẫn đang điều trị tại bệnh viện. Sau đó, Công an tỉnh Lâm Đồng đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với N.H.V. về hành vi “Cưỡng đoạt tài sản”, đồng thời tiếp tục điều tra hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Trong trường hợp này, bạo lực không chỉ bị phát hiện muộn mà còn có thể kéo dài nhiều lần ngay trong môi trường học đường trước khi được nhận diện và xử lý.

Vấn đề không nằm ở việc có hay không có clip, mà ở chỗ vì sao hành vi bạo lực có thể kéo dài qua nhiều lần trong khi cơ chế phát hiện sớm không vận hành hiệu quả. Khi hệ thống cảnh báo từ bên trong nhà trường chưa đủ sức hoạt động, những đoạn clip bên ngoài xã hội vô tình trở thành kênh báo động thay thế.

Lâu nay, xử lý bạo lực học đường là một bài toán khó, khi vừa chịu ràng buộc bởi quy định kỷ luật học sinh, vừa bị giới hạn bởi ngưỡng xử lý hình sự do đối tượng vi phạm là trẻ em. Những ràng buộc này khiến nhiều trường hợp thiếu kịp thời, tạo khoảng trống trong thực thi.

Trong bối cảnh đó, cả hai vụ việc xảy ra gần đây đều đã bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phản ánh mức độ nghiêm trọng của hành vi bạo lực học đường khi đã vượt khỏi phạm vi xử lý nội bộ nhà trường, đồng thời cho thấy yêu cầu xử lý nghiêm để răn đe, hạn chế nguy cơ phát sinh các vụ việc tương tự trong tương lai.

Cứ sau mỗi vụ việc nghiêm trọng, ngành giáo dục lại ban hành thêm văn bản chỉ đạo, thêm giải pháp phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Song bạo lực học đường vẫn tiếp diễn. Điều đó đặt ra vấn đề: Không phải thiếu quy định, mà là thiếu cơ chế phát hiện sớm và niềm tin vào quá trình xử lý. Có lẽ, thay vì chỉ dừng ở công văn yêu cầu các trường tự triển khai, cần một cơ chế tiếp nhận và xử lý đủ hiệu lực để vận hành thống nhất trong toàn hệ thống.

Bởi nếu những đoạn clip, những bức ảnh biến mất trong khi cơ chế tiếp nhận, cảnh báo và xử lý thông tin chưa đủ mạnh để tạo niềm tin, xã hội có quyền băn khoăn: Chúng ta đang làm cho bạo lực học đường giảm đi, hay chỉ khiến nó khó được phát hiện, khó được báo động và khó chứng minh hơn?

Hoàng Thu Phố