Báo Đại Đoàn Kết Lãnh đạo Đảng

Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News
Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới
Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc quán triệt tại hội nghị (Ảnh: Quang Vinh)

Ngày 29/7, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc đã trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.

Ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong tổng thể tư duy, tầm nhìn mới

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ cho biết, Trung ương đã ban hành Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới. Kết luận đã kế thừa những chủ trương còn giá trị của Nghị quyết số 24-NQ/TW, đồng thời phát triển, bổ sung những chủ trương, quyết sách lớn với tư duy đột phá, tầm nhìn xa nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong giai đoạn phát triển mới.

Kết luận số 75-KL/TW xác định rõ, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong tổng thể tư duy, tầm nhìn mới; là nền tảng cho quá trình chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh và trở thành một động lực phát triển mới của nền kinh tế.

Bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả hệ thống chính trị, các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và mỗi người dân. Trong mọi quyết định phát triển, cần đặt con người và chất lượng cuộc sống của nhân dân ở vị trí trung tâm; đồng thời phát huy trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp, cộng đồng và từng người dân. Chủ động phòng ngừa, kiểm soát chặt chẽ, cảnh báo từ sớm, từ xa các nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; tập trung khắc phục, xử lý những vấn đề bức xúc, các điểm nóng về môi trường; bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên; đẩy nhanh chuyển đổi số xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và chủ động phòng, chống thiên tai.

Kết luận số 75 đặt mục tiêu đến năm 2030 là nâng cao năng lực chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, sinh kế của nhân dân. Các khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhất là ô nhiễm tại đô thị, lưu vực sông, khu, cụm công nghiệp, làng nghề phải được tập trung xử lý, phục hồi. Chất lượng môi trường sống của nhân dân được cải thiện thực chất; tình trạng suy giảm đa dạng sinh học được ngăn chặn, hướng tới cân bằng sinh thái. Các nguồn thải lớn được kiểm soát chặt chẽ; thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh môi trường và phát triển nhanh, bền vững.

Về tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới có môi trường sống trong lành, hài hòa với thiên nhiên, phát triển bền vững; xây dựng hệ thống quản trị môi trường hiện đại, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu; trong đó kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp trở thành phương thức phát triển chủ đạo.

Kiểm soát nghiêm ngặt các nguồn thải

Theo Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, Kết luận xác định các chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2026-2030, bao phủ toàn diện các lĩnh vực bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Các chỉ tiêu tập trung vào những cam kết then chốt, như: bảo đảm mức chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường; kiểm soát nghiêm ngặt các nguồn thải, trong đó quan trắc tự động 100% các nguồn nước, khí thải lớn và xử lý nước thải đạt quy chuẩn tại tất cả các cụm công nghiệp.

Các mục tiêu nâng cao chất lượng môi trường sống được lượng hóa cụ thể, như bảo đảm tối thiểu 80% số ngày có chất lượng không khí tốt và trung bình tại các đô thị đặc biệt; tỷ lệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt 95% tại khu vực đô thị và 85% tại khu vực nông thôn; giảm phát thải khí nhà kính ít nhất 9%.

Để cụ thể hóa các mục tiêu đã đề ra, theo ông Phạm Gia Túc, Trung ương xác định 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm tạo chuyển biến căn bản trong công tác bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới. Theo đó, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội; lan tỏa lối sống xanh, tiêu dùng bền vững; xây dựng ý thức tự giác, văn hóa môi trường trong toàn xã hội. Hoàn thiện thể chế, siết chặt kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Bên cạnh đó, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Ngân sách nhà nước bố trí tối thiểu 2% tổng chi hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, bảo đảm giữ vai trò dẫn dắt; đồng thời huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, nguồn vốn quốc tế, các quỹ khí hậu toàn cầu, nguồn tài chính xanh. Cùng với đó, tập trung giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm. Bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Hiện đại hóa công tác quản lý, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên gắn với chuyển đổi số; thực hiện các giải pháp dựa vào tự nhiên, bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái quan trọng.

Đặc biệt, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai. Theo đó, cần cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, điều chỉnh chiến lược, quy hoạch và xây dựng phương án phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai phù hợp với điều kiện từng địa phương. Đồng thời, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm; quy hoạch di dời người dân khỏi các khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở; bảo đảm sinh kế bền vững tại nơi ở mới.

Đẩy mạnh chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn và quản lý phát thải khí nhà kính. Phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và nguồn nhân lực. Ưu tiên nghiên cứu, phát triển, chuyển giao và ứng dụng các công nghệ quan trắc, dự báo, cảnh báo; công nghệ sạch, tái chế, xử lý chất thải, giảm phát thải, thu hồi, lưu giữ và tái sử dụng carbon. Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế. Việt Nam chủ động tham gia định hình các sáng kiến, thỏa thuận, cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu về môi trường, khí hậu; tăng cường ngoại giao môi trường, ngoại giao khí hậu.

Đồng thời, tăng cường hợp tác trong xử lý các vấn đề môi trường xuyên biên giới, quản lý tài nguyên nước, phòng, chống thiên tai, bảo đảm an ninh môi trường, an ninh khí hậu.

 

Việt Thắng