Chuyển đổi số ở hợp tác xã: Không chỉ dừng ở chiếc tem QR
Dù khoảng 35% hợp tác xã (HTX) đã ứng dụng mã QR để truy xuất nguồn gốc sản phẩm, tỷ lệ sản phẩm có đầy đủ dữ liệu trên hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản mới đạt khoảng 20%. Thực tế này cho thấy chuyển đổi số ở HTX đòi hỏi phải bắt đầu từ chuẩn hóa dữ liệu sản xuất.
Dữ liệu chưa đồng bộ, chuyển đổi số khó đi vào thực chất
Điểm nghẽn lớn hiện nay không hẳn là thiếu phần mềm hay công nghệ, mà nằm ở năng lực ghi chép, cập nhật dữ liệu của người sản xuất. Nếu thông tin về quá trình canh tác, thu hoạch, sơ chế và đóng gói không được ghi nhận đầy đủ, việc gắn tem QR khó bảo đảm tính minh bạch của sản phẩm.
Thực tế này đặt ra yêu cầu chuyển đổi số phải bắt đầu từ hoạt động sản xuất và quản trị, thay vì chỉ tập trung vào quảng bá, bán hàng trực tuyến hay truy xuất nguồn gốc ở khâu đầu ra.
Theo ông Trịnh Anh Tuấn, Viện Khoa học Kinh tế hợp tác, quá trình chuyển đổi số tại các HTX mới ở giai đoạn đầu. Dù thành viên có khả năng tiếp cận điện thoại thông minh khá tốt, việc ứng dụng công nghệ vào công việc chuyên môn còn hạn chế.
Khảo sát cho thấy mức độ sử dụng internet trong công việc đạt 2,27 điểm, trong khi sử dụng máy tính chỉ đạt 1,46 điểm. Hoạt động trao đổi với khách hàng chủ yếu vẫn qua điện thoại, tin nhắn và các ứng dụng trò chuyện.
Đáng chú ý, chỉ khoảng 15% HTX sử dụng phần mềm quản trị. Theo ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ), số liệu từ Viện Khoa học Kinh tế hợp tác và báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2024 cho thấy 53% giám đốc HTX chưa qua đào tạo chuyên môn, chỉ 13% có trình độ đại học trở lên.
Hạn chế về nhân lực, kỹ năng số và năng lực quản trị khiến nhiều HTX gặp khó khăn khi lựa chọn, triển khai và khai thác các giải pháp công nghệ. Trong khi đó, nếu dữ liệu đầu vào chưa đầy đủ, việc đầu tư các công cụ phục vụ bán hàng hay truy xuất nguồn gốc khó phát huy hiệu quả.
Ông Hạnh cho rằng đầu tư công nghệ ở khâu đầu ra khi dữ liệu đầu vào chưa được chuẩn hóa là chưa đúng trình tự. Các thông tin về vùng trồng, nhật ký canh tác, sản lượng, thu hoạch và lô hàng cần được cập nhật đầy đủ trước khi tích hợp vào nền tảng số.
HTX cần làm chủ dữ liệu, ưu tiên nền tảng dùng chung
Các chuyên gia khuyến cáo, HTX cần hướng dẫn, giám sát thành viên ghi nhật ký canh tác theo một mẫu thống nhất; quản lý thông tin về hộ sản xuất, thửa đất, thời điểm thu hoạch và từng lô hàng. Đây là cơ sở để truy xuất nguồn gốc khi sản phẩm được tập hợp, phân loại, chia tách hoặc ghép lô phục vụ chế biến, xuất khẩu.
HTX cũng là đầu mối kết nối với cơ quan quản lý, đơn vị cung cấp công nghệ và doanh nghiệp thu mua. Khi dữ liệu được tổ chức bài bản, HTX có thể chủ động chứng minh chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của đối tác và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Dữ liệu sản xuất minh bạch còn giúp HTX mở rộng khả năng tiếp cận các kênh phân phối hiện đại, rút ngắn thủ tục xuất khẩu và tạo thêm cơ sở để tổ chức tín dụng thẩm định hoạt động sản xuất, kinh doanh khi xem xét cho vay.
Tuy nhiên, với nguồn lực tài chính và nhân lực công nghệ còn hạn chế, HTX không nhất thiết phải tự xây dựng phần mềm riêng. Theo ông Hoàng Hữu Hạnh, nguyên tắc cần ưu tiên là “dùng chung trước, đầu tư riêng sau”, thông qua các nền tảng sẵn có hoặc thuê dịch vụ phù hợp với nhu cầu.
Các giải pháp được lựa chọn cần có khả năng kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, bảo đảm liên thông dữ liệu và cho phép HTX xuất, sử dụng dữ liệu của mình. Điều này giúp hạn chế tình trạng phụ thuộc vào một nhà cung cấp, khiến dữ liệu bị giữ lại trên nền tảng và khó chuyển đổi khi cần thiết.
Ông Hoàng Hữu Hạnh lưu ý 3 rủi ro trong quá trình hỗ trợ HTX chuyển đổi số: có kinh phí đầu tư nhưng không có người sử dụng; phụ thuộc vào nhà cung cấp công nghệ và chạy theo công nghệ mới trong khi dữ liệu nền tảng còn yếu.
Theo ông Hoàng Hữu Hạnh, HTX có thể tiếp cận các nội dung hỗ trợ đã có hiệu lực như tư vấn chuyển đổi số, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ sở hữu trí tuệ, xúc tiến thương mại, thương mại điện tử và truy xuất nguồn gốc. Việc triển khai cần căn cứ điều kiện của từng chính sách và nhu cầu thực tế.