Cơ hội bứt phá trong chuỗi giá trị toàn cầu - Bài cuối: Giữ chân những “đại bàng” công nghệ
Sau khi tạo dựng sức hút bằng môi trường đầu tư và hệ sinh thái công nghệ, TPHCM đang bước vào giai đoạn cạnh tranh mới trong thu hút FDI.

Khi nhân lực trở thành lợi thế
Ở giai đoạn trước, bài toán đặt ra cho Việt Nam là làm thế nào để thu hút được nhiều dự án FDI hơn. Tuy nhiên hiện nay, câu hỏi đã thay đổi: Điều gì khiến các tập đoàn công nghệ lựa chọn Việt Nam cho những khoản đầu tư dài hạn?
Không còn là câu chuyện về ưu đãi thuế hay chi phí lao động, các tập đoàn công nghệ toàn cầu ngày càng lựa chọn điểm đến đầu tư dựa trên những tiêu chí khác biệt: khả năng cung ứng nguồn nhân lực trình độ cao, năng lực nghiên cứu - phát triển (R&D), chất lượng thể chế và mức độ hoàn thiện của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Thực tế chỉ rõ, dù có nhiều lợi thế, song bài toán nhân lực vẫn là thách thức lớn đối với TPHCM cũng như Việt Nam. Điều này được phản ánh rõ qua nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp công nghệ đang hoạt động. Điển hình, Marvell Việt Nam hiện có khoảng 300 nhân sự, trong đó 97% là kỹ sư thiết kế vi mạch và điện tử. Doanh nghiệp đang tiếp tục mở rộng Trung tâm Thiết kế vi mạch tại TPHCM để phát triển các giải pháp phục vụ trung tâm dữ liệu đám mây và AI. Thế nhưng, theo đại diện Marvell Việt Nam, trở ngại lớn nhất hiện nay không phải nhu cầu thị trường, chính là sự thiếu hụt đội ngũ kỹ sư có trình độ đáp ứng tốc độ phát triển rất nhanh của ngành bán dẫn.
Nói về nguồn nhân lực chất lược cao, TS Huỳnh Phú Minh Cường - Phó Trưởng ban Khoa học và Công nghệ, Đại học Quốc gia TPHCM thông tin, hệ thống đại học đang giữ vai trò trung tâm trong việc đào tạo nguồn nhân lực và phát triển năng lực nghiên cứu phục vụ các ngành công nghệ chiến lược. Hiện Đại học Quốc gia thành phố có hơn 100.000 sinh viên cùng trên 6.000 giảng viên, nhà khoa học có trình độ tiến sĩ, trong đó hơn 60% sinh viên theo học các ngành STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học). Đây là một lợi thế đặc biệt của thành phố khi nhiều trung tâm đào tạo lớn nhất cả nước tập trung tại địa phương. Ngoài đào tạo nguồn nhân lực, các trường đại học còn là nơi hình thành các nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm và những ý tưởng đổi mới sáng tạo - yếu tố ngày càng được các tập đoàn công nghệ coi trọng. “Nhận thấy xu hướng phát triển của các ngành công nghệ chiến lược, Đại học Quốc gia TPHCM cũng đã điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, đồng thời tập trung phát triển nguồn nhân lực trình độ thạc sĩ và tiến sĩ trong các lĩnh vực bán dẫn, AI và năng lượng” – TS Huỳnh Phú Minh Cường nói.
Đáng chú ý, thành phố đang đầu tư các phòng thí nghiệm bán dẫn dùng chung, cùng nhiều cơ sở nghiên cứu về công nghệ đóng gói tiên tiến và trí tuệ nhân tạo. Đây được xem là nền tảng quan trọng để hình thành hệ sinh thái nghiên cứu phục vụ ngành bán dẫn và công nghệ cao trong tương lai. Điều này cho thấy, cuộc cạnh tranh thu hút FDI công nghệ cao diễn ra giữa các khu công nghiệp, đồng thời mở rộng sang năng lực đào tạo và nghiên cứu của hệ thống đại học. Ông Nguyễn Mạnh Cường - Phó Chủ tịch UBND TPHCM khẳng định: “Thành phố luôn xác định đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm phục vụ sự phát triển bền vững của thành phố và đất nước. Thành phố quan tâm, ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp để phát triển nguồn nhân lực đạt chuẩn quốc tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh”.
Thể chế thành niềm tin của nhà đầu tư
Nếu nguồn nhân lực quyết định khả năng tiếp nhận công nghệ thì thể chế lại quyết định khả năng chuyển những lợi thế đó thành niềm tin của nhà đầu tư. Trong bối cảnh cạnh tranh FDI ngày càng gay gắt, các tập đoàn công nghệ đánh giá môi trường đầu tư qua chính sách ưu đãi và tốc độ xử lý thủ tục cũng như mức độ đồng hành của chính quyền trong suốt vòng đời dự án.
Ở góc độ nhà đầu tư tài chính, ông Louis Nguyễn - Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc điều hành Saigon Asset Management Corporation (SAM) đánh giá cao các cơ chế đặc thù mà TPHCM đang triển khai theo Nghị quyết 98 của Quốc hội. Bởi vì những chính sách mới tạo thêm dư địa để thành phố phát triển khoa học, công nghệ và còn mở ra cơ hội thu hút các dự án đầu tư chiến lược. Đơn vị này đang phối hợp với UBND thành phố, Sở Khoa học và Công nghệ cùng Trung tâm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại TPHCM (C4IR) đưa hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Plug and Play đến Việt Nam. Với vai trò nhà đầu tư quốc tế, ông Chase Zunino - Giám đốc điều hành C-Hawk cho rằng, bên cạnh việc thu hút các tập đoàn công nghệ lớn, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách theo hướng minh bạch, ổn định và dễ tiếp cận hơn. Chính sách ưu đãi đầu tư không nên chỉ hướng đến các doanh nghiệp quy mô lớn mà cần tạo điều kiện để doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia chuỗi cung ứng công nghệ cao. Đây chính là lực lượng sẽ tạo nên tính bền vững cho hệ sinh thái bán dẫn và công nghệ trong tương lai.
Mặc dù đánh giá tích cực về tiềm năng phát triển của Việt Nam, cộng đồng doanh nghiệp châu Âu vẫn chỉ ra không ít rào cản trong quá trình triển khai dự án. Theo khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham), khoảng một phần ba doanh nghiệp cho biết các thủ tục hành chính khiến tiến độ triển khai dự án bị kéo dài. Có 29% doanh nghiệp phải dành nguồn lực đáng kể để xử lý các thủ tục hành chính thay vì tập trung cho hoạt động sản xuất, kinh doanh; trong khi 27% nhận định hệ thống quy định còn phức tạp, làm giảm năng lực cạnh tranh và hạn chế khả năng mở rộng đầu tư. Đằng sau những con số ấy là thực tế mà nhiều doanh nghiệp FDI đang gặp phải, chính là quy trình cấp phép nhiều tầng, thủ tục còn chồng chéo, thời gian xử lý kéo dài và sự thiếu đồng bộ trong quá trình thực thi giữa các cơ quan. Các nhà đầu tư nhấn mạnh, đối với các ngành công nghệ cao, nơi tốc độ đổi mới được tính bằng từng tháng, thậm chí từng tuần, những khoảng thời gian chờ đợi làm chậm tiến độ triển khai dự án, ảnh hưởng đến kế hoạch nghiên cứu, sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường. Không ít doanh nghiệp cũng phản ánh tình trạng chậm hoàn thuế giá trị gia tăng (VAT), những thay đổi chính sách hoặc sự khác biệt trong cách áp dụng quy định giữa các địa phương… Đó là những vấn đề mà nếu không được giải quyết kịp thời, lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong thu hút FDI công nghệ cao sẽ khó có thể duy trì trong dài hạn.
Mong muốn thành điểm đến hấp dẫn nhà đầu tư công nghệ, song song với việc hoàn thiện cơ chế chính sách, TPHCM cũng đang đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xúc tiến và hỗ trợ đầu tư. Một trong những bước đi đáng chú ý là việc UBND thành phố mới công bố phiên bản thử nghiệm Hạ tầng Xúc tiến Đầu tư trên môi trường số TPHCM (HCMCInvest). HCMCInvest được định hướng trở thành nền tảng dữ liệu số phục vụ hoạt động xúc tiến đầu tư, giúp nhà đầu tư tiếp cận thông tin minh bạch hơn, rút ngắn thời gian tìm hiểu thị trường và tăng cường kết nối với các cơ quan quản lý. Thành phố đang thúc đẩy mạnh mẽ cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số. Sở Nội vụ được giao tham mưu hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cán bộ theo kết quả thực hiện nhiệm vụ; trong khi Sở Khoa học và Công nghệ đẩy nhanh kết nối dữ liệu chuyên ngành với Trung tâm dữ liệu quốc gia, ưu tiên chuẩn hóa dữ liệu đất đai, y tế, giáo dục và an sinh xã hội.
Cùng với đó, TPHCM đã thành lập Ban Chỉ đạo Hệ thống Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền, tạo cơ chế tiếp nhận và xử lý kịp thời các kiến nghị của doanh nghiệp, góp phần tháo gỡ khó khăn ngay trong quá trình triển khai dự án. Những bước đi này cho thấy thành phố đang từng bước chuyển từ tư duy quản lý doanh nghiệp sang phục vụ và đồng hành cùng doanh nghiệp, coi chất lượng điều hành là một lợi thế cạnh tranh trong thu hút đầu tư.
Theo Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TPHCM, thành phố vừa khởi động chương trình khảo sát, đánh giá Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành và địa phương (DDCI) năm 2026. Đây là năm thứ tư thành phố triển khai bộ chỉ số DDCI hướng đến mục tiêu cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và thực hiện hiệu quả Nghị quyết 02 của Chính phủ. Bộ chỉ số DDCI 2026 gồm hai nhóm đánh giá. Đối với khối sở, ban, ngành, hệ thống gồm 9 chỉ số thành phần, tập trung vào các nội dung như minh bạch và chính quyền số; chi phí không chính thức; hiệu quả thủ tục hành chính; cạnh tranh bình đẳng; chất lượng hỗ trợ doanh nghiệp;... Đối với khối địa phương, ngoài 9 chỉ số tương tự còn bổ sung thêm chỉ số thứ 10 về khả năng tiếp cận đất đai và ổn định trong sử dụng đất.