Báo Đại Đoàn Kết Giáo dục

Đại học tìm đường thương mại hóa nghiên cứu

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Đại học tìm đường thương mại hóa nghiên cứu

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Nhiều trường đại học (ĐH) thu hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng từ chuyển giao công nghệ, thương mại hóa nghiên cứu và hợp tác với doanh nghiệp. Tuy nhiên, nguồn thu khoa học, công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo tại phần lớn các trường vẫn hạn chế. Thách thức đặt ra là đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm vào sản xuất, kinh doanh.

Nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: USTH.
Nghiên cứu sinh tại Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: USTH.

Tín hiệu vui từ doanh thu thực tế

Năng lực nghiên cứu của các trường ĐH Việt Nam đang từng bước chuyển hóa thành những giá trị kinh tế cụ thể. Số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) cho thấy năm 2025, khối giáo dục ĐH có 21.014 công bố trong danh mục Scopus, tăng 16,1% so với năm trước và chiếm 83,61% tổng số công bố của cả nước. Trong 9 tháng năm 2026, tỷ trọng này tăng lên 84,99%.

Không chỉ dừng ở công bố khoa học, hoạt động sở hữu trí tuệ cũng ghi nhận bước tiến đáng chú ý. Năm 2025, các cơ sở giáo dục ĐH nộp 496 đơn đăng ký sáng chế; trong 9 tháng năm 2026, con số này đạt 513 đơn, vượt kết quả cả năm trước.

Đáng chú ý, dữ liệu Chuẩn cơ sở giáo dục ĐH kỳ 2025 cho thấy nguồn thu từ KHCN và đổi mới sáng tạo tăng 58,07% so với năm 2024. Tuy nhiên, khoản thu này mới chiếm 4,94% tổng thu của tập dữ liệu. Điều đó cho thấy tiềm lực nghiên cứu trong các trường đã hình thành, nhưng việc chuyển hóa thành sản phẩm có khả năng thương mại hóa vẫn chưa tương xứng.

Một trong những điểm sáng là Trường ĐH Bách khoa, ĐH Quốc gia TPHCM. Doanh thu thương mại hóa của trường đạt 137 tỷ đồng năm 2025, trong đó khoảng 60% đến từ các nghiên cứu theo đặt hàng của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, năm 2025 trường công bố 1.216 bài báo quốc tế và 19 bằng sở hữu trí tuệ. Đây là minh chứng cho khả năng tạo nguồn thu khi nghiên cứu được kết nối với nhu cầu thực tế của thị trường.

Tại ĐH Quốc gia Hà Nội, doanh thu chuyển giao KHCN năm 2025 đạt trên 52 tỷ đồng. Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo của đơn vị, với quy mô 22,9 ha, đã làm việc với 15 tập đoàn, doanh nghiệp, ký kết hợp tác với 7 doanh nghiệp và tiếp nhận các đơn đặt hàng nghiên cứu, phát triển (R&D) trị giá trên 50 tỷ đồng trong năm 2025. Đáng chú ý, Tập đoàn MK Group cam kết đầu tư khoảng 20 tỷ đồng phát triển chip ảnh nhiệt và thành lập doanh nghiệp khởi nguồn.

Tại ĐH Bách khoa Hà Nội, doanh thu dịch vụ KHCN đạt trên 41,2 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026. Trường có 99 đơn sở hữu trí tuệ, 37 văn bằng sở hữu trí tuệ và mạng lưới hơn 500 doanh nghiệp đối tác. Việc tham gia chủ trì chương trình trí tuệ nhân tạo tại biên (Edge AI) cũng mở ra cơ hội kết nối nghiên cứu với các bài toán công nghệ thực tế.

Ở cấp độ toàn hệ thống, Bộ GDĐT cho biết đến tháng 10/2026, danh mục sản phẩm nghiên cứu sẵn sàng chuyển giao, thương mại hóa đã tập hợp 1.022 sản phẩm, công nghệ của 41 đơn vị. Trong đó, 334 sản phẩm, tương đương 32,7%, đạt mức độ sẵn sàng công nghệ TRL 7-9, tức có khả năng tiến tới chuyển giao; 121 sản phẩm ở mức TRL 5-6 và 83 sản phẩm ở giai đoạn TRL 1-4. Tuy nhiên, có tới 484 sản phẩm, chiếm 47,4%, chưa xác định mức độ sẵn sàng theo thang TRL.

Thực tế này cho thấy khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu và khả năng thương mại hóa vẫn còn đáng kể.

Gỡ điểm nghẽn để mở đường thương mại hóa

Theo Bộ GDĐT, một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay là kết quả nghiên cứu thường dừng ở mức TRL 3-4, trong khi doanh nghiệp thường chỉ sẵn sàng tiếp nhận công nghệ ở mức TRL 6-7 trở lên. Khoảng cách này đòi hỏi nguồn vốn cho giai đoạn hoàn thiện công nghệ, chế tạo mẫu, thử nghiệm và chứng nhận, nhưng cơ chế tài chính đối ứng giữa Nhà nước và doanh nghiệp chưa ổn định.

Bên cạnh đó, việc định giá tài sản trí tuệ, phân chia lợi ích và xác định trách nhiệm khi thương mại hóa kết quả nghiên cứu vẫn khiến nhiều cơ sở giáo dục ĐH e ngại. Dù đã có cơ chế cho phép tổ chức chủ trì sở hữu kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước, góp vốn bằng tài sản trí tuệ và thành lập doanh nghiệp khởi nguồn, việc triển khai trên thực tế vẫn cần các quy trình cụ thể và hướng dẫn thống nhất.

Giám đốc ĐH Quốc gia Hà Nội Bùi Thế Duy cho rằng, điểm nghẽn lớn trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu là thiếu cơ chế quản lý, khai thác và phân chia lợi ích từ tài sản trí tuệ, cùng với thị trường đầu ra cho sản phẩm công nghệ. Ông nhấn mạnh cần chuyển từ kiến nghị cơ chế, chính sách sang hành động thực chất, gắn nhà khoa học với doanh nghiệp và các bài toán sản xuất, kinh doanh.

Để khắc phục, Thứ trưởng Bộ GDĐT Phạm Quang Hưng đề xuất phát triển các liên minh nghiên cứu hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp; xây dựng quỹ đối ứng, hỗ trợ giai đoạn hoàn thiện công nghệ; phát triển doanh nghiệp khởi nguồn và công viên KHCN trong các đô thị ĐH.

“Nguyên tắc xuyên suốt là doanh nghiệp tham gia từ khâu xác định bài toán, cùng đầu tư nguồn lực và cam kết tiếp nhận sản phẩm nếu đạt yêu cầu” – Thứ trưởng Phạm Quang Hưng nhấn mạnh.

Thu Hương