Báo Đại Đoàn Kết Kinh tế

Tạo động lực cho tăng trưởng hai con số

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Tạo động lực cho tăng trưởng hai con số

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030 đặt ra yêu cầu rất lớn về nguồn lực đầu tư. Trong khi đó, khả năng đáp ứng vốn của ngân sách nhà nước có giới hạn, còn nền kinh tế vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng. Điều này đòi hỏi phải có giải pháp phát triển đồng bộ các kênh huy động vốn, nhất là thị trường vốn trung và dài hạn.

Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 13 - 15% mỗi năm.  Ảnh: Lê Minh.
Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 13 - 15% mỗi năm. Ảnh: Lê Minh.

Nhu cầu vốn lớn, không thể chỉ dựa vào ngân hàng

Theo TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 13 - 15% mỗi năm. Tổng nhu cầu vốn đầu tư ước tính lên tới 280 - 300 tỷ USD/năm, trong đó yếu tố vốn dự kiến đóng góp khoảng 40 - 42% vào tăng trưởng kinh tế.

Đáng chú ý, ngân sách nhà nước dự kiến chỉ đáp ứng khoảng 22% tổng nhu cầu vốn. Phần còn lại phải huy động từ khu vực tư nhân trong nước và nguồn vốn nước ngoài. Điều này cho thấy khu vực tư nhân sẽ giữ vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng của nền kinh tế.

Tuy nhiên, theo TS Cấn Văn Lực, cơ cấu huy động vốn hiện nay còn mất cân đối khi nguồn vốn cho nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. Trong khi đó, thị trường chứng khoán, bao gồm thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp, chưa phát huy tương xứng tiềm năng.

Thực tế này đặt ra thách thức khi nhu cầu vốn đầu tư trung và dài hạn ngày càng lớn, đặc biệt đối với các dự án hạ tầng, sản xuất công nghiệp, chuyển đổi năng lượng và phát triển công nghệ. Nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, áp lực huy động vốn và cân đối kỳ hạn của các tổ chức tín dụng sẽ gia tăng.

Vì vậy, TS Cấn Văn Lực cho rằng cần phát triển mạnh thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và các kênh huy động vốn ngoài ngân hàng. Đây không chỉ là giải pháp bổ sung nguồn vốn cho nền kinh tế mà còn góp phần giảm áp lực đối với hệ thống tín dụng, tạo điều kiện phân bổ nguồn lực phù hợp hơn với nhu cầu đầu tư.

Bên cạnh các kênh huy động truyền thống, Việt Nam cần khai thác hiệu quả những nguồn lực còn nhiều dư địa như tài chính xanh, kiều hối, du lịch, thặng dư thương mại, thị trường carbon, đất đai và các quỹ tài chính ngoài ngân sách.

Đối với nguồn vốn quốc tế, việc huy động cần gắn với các dự án cụ thể, có tính khả thi và khả năng hấp thụ vốn. Đồng thời, cần tiếp tục tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, nâng cao chất lượng hàng hóa và quản trị trên thị trường chứng khoán, tăng cường bảo vệ nhà đầu tư và phát triển hạ tầng dữ liệu.

Để nguồn vốn đi vào nền kinh tế

Không chỉ đối mặt với yêu cầu huy động lượng vốn lớn, nền kinh tế còn phải giải quyết những hạn chế trong phân bổ và sử dụng nguồn lực.

TS Nguyễn Thị Ngọc Hà, chuyên gia tài chính, nhận định mặc dù tăng trưởng kinh tế đang cải thiện, chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng vẫn là vấn đề cần quan tâm.

Một trong những hạn chế là nền kinh tế còn phụ thuộc lớn vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước vẫn gặp nhiều khó khăn. Khả năng tiếp cận, huy động và sử dụng nguồn lực giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương chưa đồng đều.

Đặc biệt, tiến độ giải ngân đầu tư công tiếp tục là một điểm nghẽn cần tháo gỡ.

Theo số liệu được TS Nguyễn Thị Ngọc Hà dẫn ra, đến hết quý III/2026, tỷ lệ giải ngân đầu tư công mới đạt 62,9% kế hoạch. Trong đó, khối cơ quan trung ương đạt 44,1%, thấp hơn đáng kể so với mức 73,6% của các địa phương.

Những con số này cho thấy nguồn vốn đã được bố trí nhưng chưa thể đưa vào nền kinh tế theo tiến độ kỳ vọng. Việc chậm giải ngân không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng ngân sách mà còn hạn chế khả năng tạo động lực cho đầu tư tư nhân và các hoạt động sản xuất, kinh doanh liên quan.

Một vấn đề khác được chuyên gia lưu ý là sự khác biệt giữa tăng trưởng vốn đầu tư theo giá hiện hành và giá so sánh. Theo đó, vốn đầu tư thực hiện tăng khoảng 15% theo giá hiện hành, nhưng mức tăng theo giá so sánh chỉ đạt 7,6%.

Điều này cho thấy khi đánh giá nguồn lực đầu tư cho tăng trưởng, không thể chỉ nhìn vào quy mô vốn danh nghĩa mà cần xem xét mức tăng thực tế cũng như hiệu quả sử dụng vốn.

Bên cạnh những hạn chế trong nước, áp lực từ môi trường kinh tế quốc tế cũng đang gia tăng. Với độ mở lớn, Việt Nam chịu tác động đáng kể từ biến động lãi suất, lạm phát và dòng vốn toàn cầu.

Theo TS Nguyễn Thị Ngọc Hà, chênh lệch lợi suất trái phiếu chính phủ giữa Việt Nam và Mỹ đang thu hẹp, có thể làm gia tăng áp lực đối với dòng vốn ngoại và tỷ giá.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô song song với khơi thông các nguồn lực cho tăng trưởng. Cần tiếp tục điều hành tỷ giá linh hoạt, có kiểm soát; củng cố dự trữ ngoại hối, kiểm soát lạm phát và giảm chi phí tiếp cận vốn cho doanh nghiệp.

Cùng với đó, cần đẩy nhanh tiến độ hoàn thuế, tháo gỡ vướng mắc về thủ tục hành chính và đất đai, tạo điều kiện để các dự án sớm được triển khai. Đây là những giải pháp có thể góp phần đưa nguồn vốn đã huy động vào hoạt động sản xuất, kinh doanh thay vì để nguồn lực bị đình trệ bởi các thủ tục.

Về dài hạn, việc tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và khu vực doanh nghiệp FDI cũng được xem là giải pháp quan trọng. Phát triển hệ thống nhà cung cấp nội địa không chỉ giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng mà còn tạo thêm động lực đầu tư, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.

Ở góc độ phát triển thị trường tài chính, PGS.TS Phùng Thế Đông, chuyên gia kinh tế của Bộ Tài chính, cho rằng để đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng, Việt Nam cần phát triển đồng bộ tín dụng ngân hàng và thị trường vốn dài hạn.

Theo chuyên gia, hai kênh huy động này cần được tổ chức phù hợp với từng giai đoạn trong vòng đời của dự án đầu tư.

Cụ thể, ở giai đoạn đầu tư, xây dựng, tín dụng ngân hàng có thể giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp vốn. Khi dự án hoàn thành và đi vào vận hành, doanh nghiệp có thể tiếp tục huy động nguồn lực thông qua phát hành trái phiếu và các kênh thị trường vốn khác.

Cách thức này sẽ giúp tạo sự liên thông giữa tín dụng ngân hàng và thị trường vốn, đồng thời giảm áp lực cung ứng vốn trung và dài hạn đối với các tổ chức tín dụng.

T.Hằng