Đề nghị làm rõ quy định phòng vệ chính đáng
Đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ về phòng vệ chính đáng đối với hành vi xâm phạm đang diễn ra và nguy cơ xâm phạm trực tiếp.
Người bị xâm hại có được quyền chủ động để chống trả?
Ngày 19/10, Quốc hội thảo luận ở Tổ về Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi). Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài tham dự phiên thảo luận tại Tổ 12 (gồm các Đoàn: Phú Thọ, Cà Mau). Phát biểu tại phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc Trần Thị Hoa Ry (ĐBQH Đoàn Cà Mau) quan tâm đến vấn đề phòng vệ chính đáng được quy định tại Điều 23.
Tuy nhất trí với quy định trong Điều 23 của dự thảo luật, bà Ry cho rằng cần phải tiếp tục nghiên cứu để bảo vệ quyền tự bảo vệ hợp pháp của công dân, đồng thời khắc phục những khó khăn, bất cập khi áp dụng trong thực tiễn, phân biệt giữa phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
“Thực tiễn cho thấy khi người bị xâm hại phải chống trả trong những tình huống cấp bách, bất ngờ thì không đủ thời gian và điều kiện để đánh giá về mức độ chính xác của hành vi nguy hiểm khi bị tấn công. Do đó nếu quy định chung chung về hành vi chống trả cần thiết và thiếu tiêu chí để đánh giá cụ thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng trong thực tiễn không được thống nhất, thậm chí bất lợi cho người thực hiện phòng vệ chính đáng.
Từ đó, bà Ry đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục nghiên cứu tập trung 3 điểm. Thứ nhất, làm rõ thêm về phòng vệ chính đáng đối với hành vi xâm phạm đang diễn ra và nguy cơ xâm phạm trực tiếp, tức thời và có căn cứ khách quan. Thứ hai, cần phải làm rõ tiêu chí tính cần thiết và giới hạn phòng vệ trong tổng thể với hoàn cảnh thực tế tại thời điểm xảy ra hành vi, chứ không chỉ dựa vào những hậu quả bị thiệt hại. Thứ ba, người bị xâm hại có được quyền chủ động để chống trả cần thiết mà không bắt buộc phải né tránh. Chúng ta phải có cơ chế rõ ràng để đảm bảo không bị lạm dụng phòng vệ chính đáng để làm gây hại, hoặc cố ý gây thiệt hại cho người khác.

“Tôi đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục nghiên cứu. Nếu được có bổ sung thêm để xác định và làm rõ tính cần thiết của phòng vệ chính đáng. Đó là phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm; về phương tiện, phương pháp tấn công; diễn biến và hoàn cảnh xảy ra sự việc; khả năng nhận thức, điều kiện chống trả thực tế trong phòng vệ chính đáng để có cơ sở, tiêu chí đánh giá và nguyên tắc áp dụng một cách rõ nét hơn đối với phòng vệ chính đáng”, bà Ry nói.
Bổ sung các tiêu chí xác định rủi ro khách quan được pháp luật chấp nhận
Liên quan đến Điều 26 quy định về rủi ro nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ hoặc thử nghiệm trong mô hình kinh doanh mới, theo bà Ry nhằm thể chế tính đột phá cho phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo của quốc gia; tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho những hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám thử nghiệm và chấp nhận rủi ro có kiểm soát.
Tuy nhiên bà Ry cho hay, cần tiếp tục quan tâm một số nội dung. Cụ thể, về điều kiện loại trừ trách nhiệm hình sự trong dự thảo luật hiện nay đã quy định, nhưng phải đảm bảo tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, quy định, đề án, kế hoạch và quy chế thử nghiệm đã được phê duyệt, áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng ngừa.
Bà Ry đánh giá, trong hoạt động khoa học và thử nghiệm những lĩnh vực mới, nếu quy định như vậy là khá cứng nhắc. Các hoạt động nghiên cứu thử nghiệm, đổi mới sáng tạo vốn tiềm ẩn những yếu tố mới mà trong quá trình thử nghiệm bản thân người trong hoạt động đó chưa nhận diện và dự báo được đầy đủ vì đó là lĩnh vực mới. Theo bà Ry, nên theo hướng xác định mức độ tuân thủ và yêu cầu về an toàn bắt buộc, việc áp dụng các biện pháp về phòng ngừa cần thiết phù hợp với điều kiện thực tế và trình độ khoa học công nghệ tại thời điểm thực hiện thay vì chỉ tuân thủ một cách nghiêm ngặt quy trình thủ tục trong quá trình thực hiện.
Bên cạnh đó, cần bổ sung các tiêu chí để xác định về rủi ro khách quan được pháp luật chấp nhận. Cần phân biệt rõ giữa rủi ro khách quan không thể lường trước, hoặc kiểm soát hợp lý trong hoạt động khoa học công nghệ với hành vi vi phạm pháp luật, tránh hiểu nhầm giữa hai hành vi này trong việc thiếu trách nhiệm, hoặc cố ý gây thiệt hại.

Về trách nhiệm hình sự đối với trường hợp không tuân thủ hoặc không áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng ngừa, bà Ry đề nghị cũng cần cân nhắc thêm, bởi không phải mọi quy trình vi phạm, hoặc thiếu sót trong hoạt động thử nghiệm đều có thể cấu thành tội phạm. Vì trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi hành vi đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự. Nếu thử nghiệm ở một lĩnh vực mới cần phải thể hiện rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với thiệt hại xảy ra.
Từ những vấn đề trên, bà Ry đề nghị đối với nội dung tại Điều 26 cần phải nghiên cứu để đảm bảo giải quyết hài hòa giữa hai yêu cầu: Một mặt tạo hành lang pháp lý đủ rõ, thực chất để bảo vệ người nghiên cứu, sáng tạo trước những rủi ro khách quan; mặt khác không tạo ra khoảng trống pháp lý để lợi dụng chính sách khuyến khích sáng tạo nhằm thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật.